12. Ngôi trường cũ

Posted on 29.10.2009. Filed under: Xứ Lào - nửa trái tim tôi | Tags: |

Ngôi trường cũ

Hơn một năm nay, lòng tôi canh cánh nỗi ray rứt khôn nguôi, chính xác là nỗi tự hổ thẹn của một kẻ không tự biết mình, lời nói chưa đi đôi với việc làm. Âu cũng do cái bệnh chủ quan, chắc mẩm bạn bè đều như mình, có chung mối ưu tư sẽ kể ra đây :

Kỳ nào về tôi cũng vài lần ghé thăm hai ngôi trường cũ nơi tôi đã từng mài đũng quần cho đến ngày ra đi, đó là trường tiểu học Lạc Hồng và Lycée Savannakhet (trường Trung Học Savannakhet, THSV). Riêng khu trường của các sơ (soeur) trên dốc Đôồng Đằm Đuồn đã được trưng dụng thành nhà ở cho cán bộ, tôi thấy trâu bò nhởn nhơ nhơi cỏ. Đối với trường Lạc Hồng, nhiều năm qua khi hữu sự, như một số bạn khác, tôi cũng đã có chút ít góp phần về vật chất, còn về tinh thần tôi có viết một bài thơ ” Nỗi Lòng “, một tùy bút ” Lạc Hồng Khung Trời Nỗi Nhớ “. Riêng trường THSV tôi vẫn chưa làm được gì cả, dù đã hứa và nhất là tự hứa rất nhiều.

Lần cuối cùng tôi ghé thăm trường THSV nhằm mùa Pimay (Tết Lào) 2004 và có một buổi hàn huyên, trao đổi với ban giám hiệu, có cả thầy giám đốc người Lào – chỗ quen biết cũ, trước 1975 thầy dạy toán các lớp 6e, 5e (lớp 6, lớp 7). Trước cuộc gặp gở, tôi đã vào quan sát, quay phim toàn khuôn viên trường, các dãy lớp kể cả bàn ghế và bảng trong đó. Mấy lần trước, vào đây tôi đã buồn, tự nguyện với lòng sẽ tìm cách làm nầy làm nọ phụ trường một tay. Lời tự nguyện nóng hổi trong nỗi buồn rồi cũng theo nhịp sống Paris mà mát, lạnh dần đi. Đến lần nầy tôi xót xa, thật sự xót xa. Đành là tôi xót xa cho ngôi trường thân yêu nhưng chưa hiểu mình xót xa cho hệ quả của cái nghèo hay xót xa cho sự vô ý thức của những người ngày ngày sinh hoạt trong đó. Nỗi xót xa của tôi đối với trường THSV chẳng khác gì nỗi xót xa đối với phố chính Savannakhet, đã nói ở đầu phần 10.

Khuôn viên trường vắng vẻ, giấy vở bị vo tròn, bóp méo vất tứ tung, cỏ dại mọc đó đây như da beo, tường ngoài mỗi lớp là mỗi bức tranh loang lở của mưa-nắng-gió, chấm phá bằng mấy hàng biểu ngữ kẻ bằng sơn xanh và đỏ ” Nảm Chày Văn Saạt Soóng Thăn Va Mặn Nhưn ” (Tinh Thần Quốc Khánh Mồng 02 tháng Chạp Muôn Năm) ; cửa chính bằng gỗ mỗi lớp đều lỏng lẻo, cái còn ổ khoá, cái không ; các cửa sổ bạc phếch. Đặc biệt tường và các cửa căn nhà dùng làm văn phòng hành chánh bụi bám dày vài li, do lưu cữu nên thâm sì. Điểm làm tôi ngạc nhiên là hầu như khung cửa sổ  lớp nào cũng có gắn thêm chấn song sắt ! Chỉ riêng cây phượng đỏ ở giữa sân trường là trơ gan cùng tuế nguyệt, hoa vẫn tươi, lá vẫn xanh như thuở nào, mấy gốc xoài cũng còn sự may mắn đó.

Bước vào trong vài lớp không đóng cửa, gần cổng chính của trường lòng tôi ngỡ ngàng khó tả. Cũng bàn đó, ghế đó, bảng đó. Cũng các khung cửa sổ và mảng trời xanh oi ả … Hình như số bàn ghế thời chuyển giao ra sao, 30 năm sau còn nguyên vậy. Có điều, lúc nầy vắng học sinh nên đã phơi bày rõ rệt sự hư hao, xuống cấp ghê gớm. Chỏng chơ, lộn xộn. Cũng như trên các tường ngoài, trong nầy cũng có câu biểu ngữ nói trên cọng thêm vài câu hồ hỡi được viết trên vải trắng chữ đỏ, treo cách trần nhà độ 30 phân, phiá sau lưng bàn thầy-cô và hai bên hông. Nhiều tấm rụng hai ba đinh móc – chắc đã khá lâu – một phần rủ xuống, im lìm nên Không Ai Thấy Gì Cả!

Tôi có nghe nói về cuộc sống ngoài trường lớp của thầy giám đốc. Làm giám đốc một trường trung học nhà nước tại một tỉnh lớn thứ nhì của xứ sở mà ngày ngày tan trường, về nhà là thầy bắt tay vào phụ vợ vắt bún đem đi bán kiếm thêm chút đỉnh, xoay sở nuôi con. Lúc mới nghe kể tôi cứ tưởng là chuyện giả tưởng, sau truy ra mới hiểu, thấm và thông cảm do đâu các cô giáo ở một vài nơi nào đó tranh thủ mươi phút giải lao hay một giờ nghỉ dạy để bán cái kẹo, miếng bánh cho học trò… Kể ra giáo chức thời nay biết thích nghi với hoàn cảnh hơn lớp trước nhiều.

Trong buổi trà đàm cởi mở, thầy giám đốc có hỏi cảm tưởng của tôi khi về lại ngôi trường cũ, tôi cũng thành thật trình bày như đã ghi nhận ở trên. Tôi có nhắc tới thầy giám thị người Pháp tên Vaillant thuở trước, hỏi thầy giám đốc rằng thầy Vaillant có đặc điểm nào đáng nhớ nhất ? Thầy giám đốc bật cười, trả lời ” tôi hiểu anh muốn nói gì. Tốt lắm. Anh kể lại cho các đồng chí đây nghe luôn”. Tôi kể:

” Thầy Vaillant làm giám thị kiêm dạy văn thơ trường THSV cho đến cuối niên học 1974-1975. Thầy có hai đặc điểm. Thứ nhất là mê kịch thơ cổ điển, đặc biệt là vở Le Cid của Pierre Corneille (1606-1684). Nghe thầy giảng Le Cid tôi nghĩ bụng một mình ổng đóng hết các vai trong đó, nào Chimène, Rodrigue qua Don Diègue, Comte de Gomes … Thầy say sưa diễn kịch nhiều hơn giảng bài nên học sinh chúng tôi hụt hẩng chỉ hiểu lỏm bỏm, mà lắm khi diễn quá xa, quá đà chính thầy cũng quên lững đã giảng tới hồi nào. Đương nhiên là thầy ngượng ngùng, gãi đầu xin lỗi, cố nhớ lại rồi giảng tiếp. Thứ nhì là khi mới về nhậm chức thầy hay làm gương đi lượm rác khắp sân trường, sau thầy sắp xếp, phân công cho học sinh làm sạch sân trường, lau cửa và quét lớp”.

Ý thức quí trọng, bảo quản tài sản chung của người Âu, người Nhật là bài học bản thân phụ huynh chúng ta cần phải học tập rồi nghiêm túc cấy vào các thế hệ kế thừa.

Trong phòng dành riêng cho thầy-cô có treo 4 bức ảnh của 4 chủ tịch nước : Phoumi Vongvichit, Kaysone Phomvihane, Nouhak Phoumsavanh và Khamtay Siphandone. Mỗi bức được lồng trong một cái khung kính khá đẹp. Cầm ly trà trong tay, tôi đứng dậy tiến đến gần mấy bức ảnh và thay vì khen riêng chân dung các vị chủ tịch, tôi bảo ” ảnh đã khéo chụp, lồng trong cái khung nầy mà thêm đẹp, lại được đặt đúng chỗ nên càng trân trọng “. Một lần nữa thầy giám đốc lại phá lên cười,  nói ” tôi cũng hiểu ý anh nữa rồi “, thầy tiếp theo bằng một câu thành ngữ Pháp ” chaque chose à son temps, chaque chose à sa place ” (mỗi sự vật mỗi thời, mỗi sự vật mỗi chỗ). Đoạn nầy hai thầy kia không hiểu ý chúng tôi, bèn hỏi thầy giám đốc. Ông bảo ” Anh ấy muốn nhắc chúng ta viết và treo đàng hoàng lại mấy bức biểu ngữ đó “.

Các bạn phụ huynh có con cháu học trong trường THSV có cho tôi biết hiện nay mỗi lớp có tới trên 65 học sinh. Lào là xứ nóng, đặc biệt khí hậu ở Savannakhet của tôi thì nực khỏi chê. 65/70 em chen chúc trong một lớp rộng trên dưới 35/40 mét vuông, dù có mở toang mọi cửa nẻo, cọng thêm cái quạt trần thì nóng vẫn hoàn nóng. Do đó, ban giám hiệu và hội phụ huynh học sinh (HPHHS) đã có dự án lần hồi cất thêm 8-10 lớp trên những khoảng đất trống. Thầy giám đốc và hội trưởng (HPHHS) có đưa cho tôi coi bản thiết kế, dự kiến mỗi lớp tốn từ 2,5 đến 3 ngàn Mỹ kim, chưa tính tiền bàn ghế. Họ chẳng hề ngỏ ý nhờ tôi phụ giúp gì. Chính tôi tự động tâm hứa khả khi trở lại Pháp sẽ vận động bạn học cùng trường cũ hay nếu cần, tổ chức các buổi họp mặt hầu góp phần vào công việc chung như đã từng làm khi các anh chị trong ban điều hành trường tiểu học Lạc Hồng lên tiếng.

Tôi về lại Pháp với bản sao của dự án, đinh ninh là sẽ thực hiện được lời hứa. Bước thứ nhất, tôi liên lạc và vận động với một số bạn học thân thiết cũ. Một số trả lời ” sẵn sàng nếu tôi tổ chức dạ vũ, giá phải chăng như các nơi khác “. Bước thứ hai, tôi đề nghị vài bạn đứng chung tên để tổ chức nhảy đầm và Karaoke, đa số bảo ” làm làm chi, đó là trường của Lào mà. Nếu làm cho trường Việt thì không có vấn đề “.

Người Việt giúp người Việt là bổn phận hiển nhiên, đứa trẻ lên 3 cũng biết ” chân lý ” đó mà. Tuy nhiên, riêng đối với người Việt trên xứ Lào (trong đó có cá nhân tôi), chúng ta đừng quên rằng, muốn con em khả dĩ biết suôn sẻ tiếng mẹ đẻ thì phải qua ải Việt, chẳng hạn ải Lạc Hồng. Muốn con em học tiếp đại học bên Âu Mỹ thì phải qua trọn ải Lycée, chẳng hạn ải Trung Học Savannakhet để có tú tài. Trước hay sau 1975 vẫn vậy.

Nếu đồng ý với hai vế chung một quan điểm vừa nêu thì, theo tôi, khi có cơ hội góp sức giúp các trường học “của Lào” trên đất Lào, lòng nào nỡ khước từ khi phương tiện cho phép vì chẳng hạn “giúp” THSV, trước hết là để tỏ chút tri ân trong muôn một nơi chốn đã cưu mang chúng ta (những cựu học sinh đã ra khỏi xứ Lào, trong đó có tôi), đúng câu “uống nước nhớ nguồn” mà ai cũng thuộc nằm lòng ; kế đến đối với tất cả, Savannakhet đã, đang và sẽ cưu mang không biết đến bao giờ bao nhiêu gia đình, thân bằng quyến thuộc của mỗi chúng ta (trong đó hiện có gia đình, con cháu anh chị tôi) ; sau rốt, “giúp” THSV  đồng nghĩa với giúp cho chính con em của chúng ta có nơi chốn tương đối khả quan hơn hầu thoải mái trao dồi học vấn.

Việc tôi ghé thăm trường cũ là chuyện riêng tư, hoàn toàn do bản tánh hoài cổ, ăn mày dĩ vãng. Thế thôi. Vậy mà các thầy cho tôi là kẻ có lòng. Ngay hiện trường và những ngày kế tiếp tôi đã tự thẹn. Đêm nay viết những dòng chữ này, niềm tự thẹn càng dâng trào. Kẻ có lòng như tôi chẳng khác gì người ăn trăng nói gió, đẹp thì có thể xuề xoà cho là đẹp – trong dự phóng – nhưng thậm vô duyên và vô tích sự khi trường Trung Học Savannakhet ngày nay ( 09/2005) không mảy may cần những lời hứa đẹp.

Chương tiếpi: Người Việt tại Savannakhet

Make a Comment

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Liked it here?
Why not try sites on the blogroll...

%d bloggers like this: