13. Người Việt tại Savannakhet

Posted on 29.10.2009. Filed under: Xứ Lào - nửa trái tim tôi | Tags: |

Người Việt tại Savannakhet
Thực dân Pháp chiếm xứ Lào năm 1887,đến đầu thập niên 1920, có một số người Việt được Pháp mộ qua Lào, một phần làm trong hành chánh, giáo dục, thông ngôn; phần khác là thợ mỏ, đa số còn lại là phu lục lộ tản mác khắp các bản mường trên những đoạn đường mà Pháp đã thiết kế: quốc lộ 9, quốc lộ 13 ngày nay. Tôi không tìm ra số liệu về sự kiện nầy. Sinh thời, Mẹ tôi cho biết người Việt di cư (khác với mộ phu) qua Lào đợt đầu tiên đại thể là từ thập niên 1930, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học. Một nhóm dạt tới Savannakhet, hình thành cộng đồng công giáo từ 1931 (1). Đợt thứ hai đông đảo hơn, vào năm đói Ất Dậu 1945, tiếp theo là sau ngày Việt Nam bị chia đôi theo Hiệp Định Genève 20/07/1954, chính thức tạo nên cộng đồng Người Việt Hải Ngoại đầu tiên (2), hiện nay tục gọi là Người Việt Cũ (NVC) để có chút phân biệt với người Việt qua Lào sau 1975: Người Việt Mới (3).

« Ở xứ Lào chẳng lẻ không biết tiếng bản xứ? Do đó người mình bày ra cách dạy nhau tiếng Lào, đại để như: Xám Xíp là Ba Chục, Đảy Lục là Có Con, Pay Non là Đi Ngủ, Chủ Nhà là Chẩu Hươn, Ngân Đườn là Lương Tháng, Lặp Chảng là Làm Thuê, Con Dê là Tô Ké, Ỳ Mè là Bà Mẹ, Thậu Kè là Ông Chủ, Tò Xụ là Đấu Tranh, Sắm Phăn là Liên Đới, Phè Phới là Truyền Rao … » (4) (Thành Phố Có Mạ, Văn Tấn Phước – Tuyển tập Viễn Phương 1992, trang 94). Năm 1995, tình cờ tôi mua được tại Vientiane một cuốn sách nhỏ Học Tiếng Lào (bằng tiếng Việt) do một cán bộ người Lào biên soạn và viết bằng tay (cuốn sách này để lộn đâu đó trong tủ sách gia đình, tôi chưa lục ra, tên tác giả sẽ được bổ túc sau).Viết được chữ Lào không dễ, nhưng nói được tiếng Lào phổ thông thì không khó. Đọc kỹ cuốn nầy xong bảo đảm có thể nói chuyện với người Lào được. Theo tôi, đây là cẩm nang hữu ích cho người Việt có dự tính qua Lào làm ăn hay chỉ viếng thăm.

Trong phần 13 nầy, hai chữ Cộng Đồng chỉ có giá trị đối với người Việt (cũ) tại Savannakhet là nơi tôi tương đối biết rõ vì hầu hết nằm trong vòng thân sơ của tôi từ thuở ấu thơ cho đến nay.

Cộng Đồng Người Việt (cũ) tại Savannakhet (CĐNVSV) được chính thức hình thành trong hậu bán thập niên 1950, tuyệt đại đa số gốc Nghệ-Tĩnh và Bình-Trị-Thiên. Người đại diện đầu tiên CĐNVSV cho đến 1975 là bác Phan Thanh Tường, gốc người Miền Nam VN, theo Công Giáo, hình như lai Ấn hay Pakistan vì nước da, cặp mắt của bác nói lên chi tiết nầy. Trước kia bác Tường là công chức của Pháp nên nói tiếng tây như Tây. Bà con trọng tuổi thường gọi bác Tường là thầy Tường. Trên mặt ngoại giao Lào-Việt, bấy giờ CĐNVSV chịu ảnh hưởng của đại sứ quán VNCH cho đến hết thời luật sư đại sứ Hoàng Cơ Thụy (04/1975), tác giả bộ Việt Nam Sử Luận gồm 5 tập, Paris-1989.

Nói chung CĐNVSV ở tập trung vào hai xóm: Xóm Bảo Quang (tên trên giấy tờ là Khủm Vặt Thôồng = Xóm Chùa Đồng) và Xóm Lạc Hồng (hay xóm Thầy Viễn, tên sáng lập viên hiệu trưởng kiêm giáo viên chính trường tiểu học việt ngữ Lạc Hồng), một số ít ở Xóm Chùa Hay Doòng (tên một loại cây), ở đây có anh Phạm Hoàng và 5 người em trai họ Văn gồm Tấn Viễn, Tấn Cảnh, Tấn Phước, Tấn Phát và Tấn Sĩ, một thời nổi tiếng về văn nghệ và thể thao.

Văn nghệ là một phần của văn hoá. Nói tới văn hoá là liên tưởng tới thể thao, hai sinh hoạt không có không được của mỗi cộng đồng vì không những là phương thức lành mạnh, hữu hiệu, bền vững nhất trong liên kết, gắn bó, gìn giữ bản sắc đặc trưng mà còn tránh/giảm thiểu được những tệ đoan như cờ bạc dưới nhiều hình thức. Thiếu nó thì một tập thể đồng bào, đồng hương, đồng cảnh 2/3 trăm người, 2/3 ngàn người hay 2/3 triệu người cũng chỉ là đám đông lúc nhúc theo thời gian lưu xứ mà rời rạc và thay vì hoà đồng lại hoà tan hay tự đồng hoá vào bản sắc sở tại.

Từ 1955-1975, CĐNVSV có bốn trường Việt ngữ: Trường Văn Phú của thầy Phúc, trường Thầy Quế và thầy Hạnh, trường Cô Hoà và trường Lạc Hồng. Ba trường trước mở được vài năm thì đóng cửa, trường Lạc Hồng trụ tới biến cố 1975 (1955-1975) thì biến thành trường Thống Nhất ; từ niên học 2004-2005, trường được lấy lại cái tên cũ thân thương : Trường Lạc Hồng. Có phòng thông tin, trước ở khu Chòm-Kẻo (xóm Ngọc Đỉnh), sau dời đến gần nhà thờ Tin Lành, thuê lại căn nhà của bác Sàng, do chú Phan Thanh Tịnh làm thường trực dưới sự bảo trợ của lãnh sự quán VNCH đặt tại Paksé, có lẻ vì Paksé gần Sài-Gòn. Tôi không nhớ chú Tịnh mất năm nào trong thập niên 1990. Làm sao tôi có thể quên được những tháng năm cùng các bạn đi tập múa, tập hát dưới sự hướng dẫn của anh Phạm Hoàng, chị Ngọc Lan … và MC Phan Thanh Tịnh. Đáng ghi lại nhất là các tiết mục AVT do bộ ba Phước-Phát-Sĩ  nói trên vừa đàn vừa hát và bài Mưa Trên Phố Huế của Minh Kỳ, bài Ai Ra Xứ Huế của Duy Khánh qua giọng “Huế Chay” tuyệt vời của Bạch Yến (Lê Thị BY, xem trong hình) hoà quyện tiếng đàn bầu “đứt ruột” của anh Phạm Hoàng. Từng giọng ca, từng phong cách trình diễn độc đáo gắn chặt “nghiệp dư” vào một vài bài nhạc … tủ, “độc quyền” trong mọi hội hè lễ lạc như tiếng hát của chị Hoài Vinh (Bóng Nhỏ Đường Chiều, Trúc Phương), chị Ngọc Lan (Đồi Thông Hai Mộ, Hồng Vân / Sao Chưa Thấy Hồi Âm, Châu Kỳ),  chị Mai Hương – con gái thứ ba của bác Tường – (Tiếng Sông Hương / Tiếng Sông Cửu Long, Phạm Đình Chương), anh Minh Chánh (Lối Về Đất Mẹ, Duy Khánh / Lạy Mẹ Con Đi, Anh Bằng), anh Trường Lân (Nỗi Lòng Người Đi, Anh Bằng), anh Ngọc Hạ / Thí (Vườn Tao Ngộ, Khánh Băng / Xin Thời Gian Qua Mau, Lam Phương), anh Tấn Cảnh / Đức (Lâu Đài Tình Ái, Trần Thiện Thanh), anh Elvis Xu (Sầu Đông, Khánh Băng)… Về thể thao, có môn bóng bàn với những hảo thủ cấp vùng : lão tướng như Chú François (người Việt tên tây), chú Bảo, chú Lơ, chú Giang, chú Thương, chú Đới … ; trung và thiếu tướng như Phạm Hoàng, Hà Văn Dũng (Dũng Hà), Trần Chí Thuận, Văn Tấn Viễn, Nguyễn Văn Láo, Trần Hồng, Nguyễn Văn Lương (Khạ), Văn Tấn Phước, Nguyễn Hảo (Vân),  Văn Tấn Phát (Má) ; cấp quốc gia có hai tuyệt thủ là Trần Kim Long (Ngọc) và Văn Tấn Sĩ (Nghé). Nổi bật nhất là môn bóng đá. Đội AVS (Association des Vietnamiens à Savannakhet / Hội Người Việt Nam tại SV) là đội tuyển của tỉnh Savannakhet, trong đó có nhiều người là tuyển thủ trong hội tuyển quốc gia Vương Quốc Lào như anh Dài, anh Tường, anh Huyền, anh Tín… Đến 1975, CĐNVSV có 13 đội bóng đá với những đội danh như Quang Trung, Lê Lợi …v.v… Ngần ấy đủ nói lên sự tưng bừng hướng thượng trong sinh hoạt, ngoài sinh kế.

Cũng xin kể thêm sinh hoạt Gia Đình Phật Tử trong chùa Bảo Quang do anh Phạm Hoàng sáng lập khoảng năm 1971-1972 và hướng dẫn đến 1975. Thời gian hoạt động không lâu nên không biết kết quả Phật học ra sao, duy chắc chắn một điều nhiều cô, cậu đã thành đôi, con đàn cháu đống êm ấm đến nay là từ GĐPTBQ, đơn cữ vài cặp : Hoàng/Hạnh, Hùng/Tuyết (Xíu, xem trong hình), Hiếu/Tâm, Hưng/Cầm, Tâm/Vừa… Anh Phạm Hoàng đi tỵ nạn từ 03/1976, hiện cùng gia đình sống tại Valence, đông nam nước Pháp. Tại đây anh Phạm Hoàng là người trách nhiệm điều hành chùa Phật Quang từ 11/03/1989. Phía Công Giáo tại Savannakhet lúc bấy giờ không có sinh hoạt trẻ như GĐPT.

Nhờ có những sinh hoạt thường xuyên như thế nên ngày xưa mọi liên lạc trong CĐNVSV có thể mệnh danh là một làng Việt Nam thuần túy, nghĩa là chỉ dùng tiếng Việt.

Còn sau 1975 đến ngày nay thì sao? là câu hỏi khẩn thiết chờ câu trả lời.

Trước 1975, CĐNVSV sinh sống chủ yếu bằng nghề hàng rong, hàng quán, buôn bán ngoài chợ hay mộc, nề, giày, máy, may, hớt tóc. Sau khi Pháp rút, Mỹ vào, một số rất ít làm việc cho US-AID (Unites States Agency for International Development), US-OM (United States Operations Mission). Trên phương diện chính trị thì người mình ở đây gồm đủ lập trường : Phi chính trị có, Việt Quốc có, Quốc Gia có, Mặt Trận có, Việt Minh có (VM = nằm vùng hay đích thực là  “ăn cơm hoàng gia, thờ ma cộng sản”). Đa nguyên như thế nhưng hoạ hoằn mới có tranh luận về khái niệm tả-hữu/xanh-đỏ tí chút chứ không hề đổ máu vì tất cả đều quen thân nhau từ đường tơ kẻ tóc và như bạn đọc đều biết nằm vùng =  gián điệp hay sống chui trong tư tưởng (cs) để ghi sổ, săn tin, tuyên truyền gây bất lợi cho chính thể đang cưu mang bảo bọc mình và gia đình mình, nên VM kín đáo, tế nhị vô cùng. Rồi khi Thống Nhất đặt Mặt Trận lên tran lịch sử năm 1976, không ít người vở mộng, đoạn lòng qua sông, chung trong số khoảng 700 người việt tại Savannakhet – theo ước tính của tôi – chạy qua Thái rồi tản mác khắp thế giới.

Bác Phan Thanh Tường có khuynh hướng quốc gia nhưng không ai, kể cả mấy người nằm vùng, có thể phủ nhận tư cách trong mọi lãnh vực xã hội của bác Tường : đám khóc cũng réo bác Tường, đám cười phải có bác Tường ; thể thao/văn nghệ cũng một tay bác Tường (có sự cộng tác của chú Tịnh), thậm chí đàn bà sanh nở khó cũng đích thân bác Tường là người chạy chọt đưa vào nhà thương Tây ngoài Séno. Hiện nay bác Tường và gia đình tỵ nạn tại Pháp. Phải kể thêm anh Trần Văn Nhược, cũng là người Công Giáo, làm trưởng ban Thanh Niên & Thể Thao (sẽ nói thêm trong phần 14). Sau “chiến thắng” 1975, cũng như CĐNV ở Thakhek-Khammouane, ở Savannakhet xuất đầu lộ diện một số đồng chí, nghe nói là “chính quy”, và không ít đồng chí với bí danh 304. Có đồng chí tế nhị “công thành thân thoái” mà cũng có vài đồng chí một sớm, một trưa (chưa đợi tới chiều) “nổi” lên, khẩu súng lục kè kè bên hông, mảnh băng đỏ lòm quanh tay áo, nghênh ngang sách nhiễu, hù doạ, tố giác đồng hương từng bao năm tiệc tùng cùng bàn, rượu chè chung mâm, bài bạc một xòng và, trớ trêu đau đớn thay, 2 “đối tượng” đầu tiên lại là bác “việt gian” Phan Thanh Tường và người “bán buôn văn hoá tổ tiên” là thầy tôi, hiệu trưởng trường việt ngữ Lạc Hồng, Nguyễn Văn Viễn (tên khai sinh là Nguyễn Trung Trực, qua đời tại Paris, 05/05/1987). Cơn sốc nổi này may thay chỉ hồ hỡi, quá độ được vài năm và tình người muôn đời vẫn là lẽ sống của con người, nhất là của cộng đồng tha phương cầu thực. Thể chế nào rồi cũng phải biến thiên, nếu không chóng chầy sẽ bị lật trang, duy tình người mãi hoài ở lại.

Tôi dám khẳng định rằng ở Savannakhet người Việt (cũ) đều quen biết nhau cả, trong mọi sinh hoạt vui buồn họ đều có nhau, không phân chia Bắc-Nam-Trung, Lương hay Giáo. Cơn sốc nổi nói trên chỉ là nhất thời do ai đó từ xa, ẩn mặt kích động, sách hoạch. Mong sao, “mai sau dầu đến thế nào” (Kiều, câu 905), bi-hài-kịch nầy đừng bao giờ tái diễn.

Người thay thế bác Phan Thanh Tường làm đại diện (hội trưởng) sau 1975 là chú Trần Đèng, một người hiền hoà, dễ tánh. Từ 1985 đến nay Ban Đại Diện, nay là Hội Người Việt Nam, tại Savannakhet (HNVNSV) do hai anh Trần Chí Thuận và Trần Sái đảm nhiệm toàn thời gian kiêm luôn việc điều hành 3 ngôi trường việt ngữ với sự hợp lực rất năng động của cô Trần Thị Phước (không may đột ngột qua đời vì bệnh tim vào ngày 02/03/2005). Phải nói ngay đây là hai anh Thuận và Sái làm việc hội với tính cách tự nguyện, nghĩa là vợ con nuôi chồng, cha đi vác tù và hàng tổng trên 20 năm nay. Mấy năm trở lại đây có tăng cường thêm anh Phạm Văn Tuyên. Bao giờ chương trình “Chuyện Lạ Việt Nam” hay “Người Đương Thời” trên VTV4 mới biết tới chuyện lạ có thật nầy ? Trong một buổi tiệc nhỏ giữa vợ chồng các anh và vợ chồng tôi, tôi có đặt câu hỏi về chuyện lạ có thật nầy. Chị Hồm, vợ anh Thuận cười, bảo ” chứ cậu Th. tính, mấy chị phải làm răng đây khi mấy ông thích vác ngà voi như rứa. Mà mấy ông không làm thì ai làm ?”. Thêm một lần nữa câu ” đàng sau sự thành công của một người đàn ông bao giờ cũng ẩn hiện bóng của một người đàn bà ” lại được đặt đúng chỗ.

Mấy nhân vật kể trên đều là những người tôi thân thiết từ tấm bé và họ biết rất rõ trong đầu tôi có mấy hòn đá cuội đối với hiện tình Tổ Quốc Việt và Quê Hương Lào, nhưng anh em vẫn là anh em, tình cảm láng giềng, chòm xóm xưa không hề suy suyển. Tôi chẳng chống thuyết nầy, thuyết nọ, tôi chỉ chống bất công, độc diễn. Tôi chưa tự trị được dị ứng đối với mấy nhóm chữ “Dân chủ tập trung”, “trách nhiệm tập thể”, “Nhờ ơn cái nầy, nhờ ơn cái nọ”… Tất nhiên tôi cũng biết, từ ngày mở cửa, mấy nhóm chữ nầy – trên mặt nổi –  đã được đóng hộp cất kỹ vào bảo tàng đồ cổ. Tôi muốn người người ngoài quyền tự kiếm ăn phải tự nhiên có quyền nói lên trong trách nhiệm những suy nghĩ của mình ; tôi muốn văn nghệ hoá chính trị chứ tuyệt đối không chịu chính trị hoá văn nghệ. Các huynh trưởng kia không làm chính trị theo nghĩa để làm chính quyền, họ chỉ làm “chính trị” xã hội cộng đồng. Tựu trung, với tôi họ là những huynh trưởng đáng tâm phục khẩu phục.

Bộ ba Thuận-Tuyên-Sái năm nay đều đã là ông nội, ông ngoại cả rồi, ngấp nghé 70 cả rồi. Nhìn quanh, tôi thầm lo “chẳng lẽ CĐNVSV chỉ có Chuyện Lạ Có Thật duy nhất một lần thôi sao ?” Theo thống kê của HNVNSV (09/2005), thủ phủ Savannakhet có 2823 người Việt, 70% đã nhập tịch Lào.

Không phải tôi không có ý viết về vài gương mặt Việt hay gốc Việt nổi bật trong kinh doanh ở Savannakhet sau 1975 song tôi bẩm sinh rất ghét hạng “thấy sang bắt quàng làm họ”, nhất là “khen phò mã tốt áo” nên tự cho việc né viết về họ là thượng sách, để khỏi vô phước mang tiếng oan. Một số triệu phú đô-la đều là bậc huynh trưởng tôi quen biết từ mấy chục năm qua, một số là bạn bè từng chung một mái trường Lạc Hồng, trường Sơ. Thôi, ai muốn biết ai giàu có cấp vài chục triệu đô-la tại Savannakhet thì chỉ việc túm hỏi bất cứ người Việt-Lào ở bất cứ nơi nào trên thế giới họ sẽ trả lời thay tôi.

Tôi chỉ có chút tâm sự muốn tỏ bày cùng các huynh trưởng và các bạn triệu phú ở Savannakhet: Đã đành tài sản có được là do mồ hôi, công sức bỏ ra trên đất người. Cộng đồng ta khá giả hơn người bản xứ, một phần là nhờ họ đôn hậu, giản phác chưa lấm máu cạnh tranh nên xem ra không mấy xông xáo linh động, đặc biệt trong thương trường. Do đó, theo tôi, khi có cơ hội hoặc nên tạo ra cơ hội tỏ hiện lòng hào sảng vốn là đặc tánh của con rồng cháu tiên: Thu được 10 thì cũng cần đáp lại 1, 2 trong công tác xã hội, trong công việc chung tại nơi đã bồi đắp nên tài sản của mình, nghĩa là tái đầu tư vào “đất”. Người dân bản địa vốn không có óc tị hiềm, nhưng trước sự khá giả quá lộ liễu của cộng đồng ta, chóng chầy “giống” tị hiềm sẽ được đệ tam, đệ tứ nhân cấy vào, ươm tưới sao cho mọc thành “chính sách” – dù cục bộ –  khi kịch bản Hành Lang Kinh Tế Đông Tây (EWEC) và Đặc Khu Kinh Tế (SSEZ) chính thức mở màn. Một khi đã nhen nhúm óc tị hiềm thì chuyện bài này, bài nọ là vấn đề thời gian, là chuyện không sao tránh khỏi. Cũng chỉ là dự kiến tầm phào trong giả tưởng qua giây phút chạnh nhớ quí vị thôi.

Chú thích
( 1 ) Histoire de l’Evangélisation au Laos, P. Robert Costet, đoạn L’affluence des Vietnamiens au Laos : < …>Une communauté chrétienne en majorité formée par des Vietnamiens existait depuis 1931 à  Savannakhet.<…>

http://www.sedos.org/french/costet.htm

(2) Ông Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, trên báo Thông Luận (Paris) đã nhận định là Cộng Đồng Người Việt (CĐNV) chính thức có mặt tại hải ngoại từ sau 30/04/1975. Nhận định nầy theo tôi thiếu cơ sở nghiên cứu. CĐNV tại Lào (trước và sau 1975) đã là một thực thể đúng nghĩa của hai chữ Cộng Đồng tức là có tổ chức, có trường việt ngữ, có hội quán tự và độc lập, có đại diện duy nhất được chính quyền địa phương công nhận và khi hữu sự đều đứng ra tranh đấu, bảo vệ đồng hương, bất phân chính kiến.

Ghi chú thêm : CĐNV có mặt tại Thái Lan từ 1945, hầu hết chạy từ Lào, sau khi phát-xít Nhật đảo chánh thực dân Pháp (xem Vòng Quanh Thế Giới – NVHN, tập 2, nxb Tân Văn, Tokyo-Nhật Bản, 1999). Tài liệu từ Hà Nội ghi : 1928-1930 vì có liên quan tới ông H. C. M. trên hữu ngạn sông Mêkông, nay thuộc Đông Bắc Thái.

http://www.laodong.com.vn/pls/bld/display$.htnoidung(116,76260)

Chú thích nầy chỉ muốn khẳng định sự hiện hữu không thể phủ nhận của cộng đồng ta ở ngoài VN trước 1975, chứ không luận chuyện phải/trái, đúng/sai cũng như không bàn tới khía cạnh chính trị ” nhị nguyên” khó hiểu đến nhức nhối, nhất là chính trị giữa một người Việt “yêu nước” và một người Việt “yêu dân tộc” vốn thường và dễ đưa tới kết quả không đẹp,vả lại cũng không phải lúc, không phải chỗ.

(3) Người Việt Mới (NVM) là người Việt qua Lào nói chung, đến Savannakhet nói riêng, giữa thập niên 1980. Lúc ban đầu NVM được Người Việt Cũ (NVC) đón tiếp, giúp đỡ tận tình trong tinh thần kẻ đến trước tương trợ người đến sau. Nhưng với nhân sinh quan, cách ứng sử trong giao tế xã hội, thương mại không giống với NVC và do đã xãy ra khá nhiều trường hợp ngoài sức tưởng tượng của NVC, cho nên Cũ và Mới dẫu chung một tổ tiên, cùng một ngôn ngữ đến nay vẫn còn là hai rầy xe lửa song song.

Bản thân tôi qua nhiều lần về Savannakhet cũng ngạc nhiên trước sự thể nầy. Tôi còn nhớ năm 2001, cạnh nhà anh chị tôi có căn nhà sàn của người Lào, trong đó tôi thấy một nhóm chừng 20 người. Tôi hỏi, có người cho biết đó là những người Việt mới qua, thuê chung căn nhà nhỏ nầy. Tôi mừng quá định qua thăm làm quen, mấy người kia cản lại, bảo “họ không giống mình đâu”. Tôi nghe mà ngẩn người. Mấy người kia liền kể cho tôi nghe cơ man chuyện không đẹp. Tuy vậy tôi vẫn qua : Vui vẻ bình thường. Ra về tôi nghĩ bụng ” ông bà nói quả không sai : (vài) con sâu làm rầu (trọn một) thùng canh” rồi tủm tỉm cười một mình ” thằng A ăn mặn, thằng B uống nước”. Xin đừng bắt thằng C đi đái.

Ai cũng biết người Lào vốn bình dị, chân chất nên nhẹ dạ cả tin. Nhân sinh quan của họ lấy hai chữ chân tín làm đầu. Người Việt sống lâu năm giữa họ, dù muốn dù không cũng tiêm nhiễm ít nhiều đặc tánh đó. Gây niềm tin với người Lào hay người Việt-Lào rất dễ NHƯNG lấy lại niềm tin thì khó vô cùng, khó không thể. Họ chưa biết uyển chuyển kiểu nói đi, nói lại ; nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong hoặc “nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay” (Kiều, câu 1182) là bài học họ chưa được học hay chưa học được.

Sinh kế của NVM chủ yếu là làm công nhân xây cất, mở quán ăn bình dân… Hầu hết NVM chưa nằm trong quy chế thường trú, họ qua mưu sinh dưới dạng du lịch, tạm cư tùy theo hợp đồng của mỗi công trình xây cất ngắn hay dài hạn, hết hạn là phải về rồi xoay cách trở qua lại. Qua điện thoại viễn liên anh Trần Chí Thuận mới cho tôi biết có 13 gia đình NVM đã được phép định cư tại Savannakhet (30/09/2005).

(4) Tương tự ngày xưa các cụ ta dạy nhau tiếng Pháp :

Pa-pa tiếng gọi là cha,
Ma-măng là mẹ ông bà ay-ơ
Om người, Fam vợ, chị sơ
Ăng-xét ông vải, phượng thờ lơ-quyn.

<…>

để rồi viết được những bức thư song-ngữ thế nầy :

J’écris tình thư une lettre
Gửi cho mình connaître mon coeur
Từ khi mình quitter je
Bonheur cũng lắm malheur cũng nhiều
Thằng Jean malade mỗi chiều
Docteur cher (đắt) lắm, argent nhiều j’ai pas
Nếu toi penser à moi
Envoi cent piastres, ça va très bồng.
(Trích Nào Ai Thoát Khỏi, Tô Vũ – báo Ngày Mới, bộ mới số 62, 11 & 12, 2004)

và đây là sách dạy chữ Hán mà bản thân tôi đã dùng khi bắt đầu tự học:

Chữ Nhất 一 là một nét ngang,
Nghĩa nó là : Một, rõ ràng chẳng sai.
Còn như hai gạch 二 nằm ngay,
Ấy là chữ Nhị 二 dịch Hai không nhàm.
Giữa Nhị 二 một nét 〡bị giam,
Đọc Công 工 dịch Khéo, Việc Làm đúng in.
Công 工 đây như thể Công Binh 工 兵
Hay là Công Tác 工 作, Công Trình工 裎 , Công Nhân  工 人 …

(Hán Học Giải Minh, quyển thượng, Hiền Minh Tạ Vân Long tự xb, SG 1964)
Chương tiếp: Hai cuốn tự điển Lào-Việt và Việt-Lào

Make a Comment

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Liked it here?
Why not try sites on the blogroll...

%d bloggers like this: