2. LuangPrabang

Posted on 29.10.2009. Filed under: Xứ Lào - nửa trái tim tôi | Tags: |

Việt Nam có Huế, xứ Lào có LuangPrabang. Cả hai đều là cố đô đồng thời được Unesco công nhận là di sản văn hoá thế giới. Cố đô Huế năm 1993. Cố đô LuangPrabang năm 1995. LuangPrabang là không gian đón nhiều lượt khách du lịch nhất trong xứ Lào.

LuangPrabang thuộc vùng núi miệt trung bắc xứ Lào, độ cao khoảng 700m, nằm giữa ngã ba sông MêKông và sông Khan, nối liền thủ đô Vientiane bằng quốc lộ 13, cách nhau 320cs. Quần thể LuangPrabang duỗi mình trên một doi đất có sông, có suối, có núi. Diện tích LuangPrabang và vùng phụ cận được 16.875cs vuông. Dân số 408.800 người (8,24% tổng số quốc dân, 2004), bao gồm 12 bộ tộc : Lao thơng (người Lào miệt trung du): 46% ; Lao Lùm (người Lào miệt đồng bằng): 40% và Lao Súng (người Lào miền núi): 14%. Nội thành LuangPrabang có 20.000 người. Sau 1975, phần lớn ngoại kiều như người việt còn trụ lại Lào đều tản về thủ đô Vientiane.

Xưa, LuangPrabang có tên là Mương Xua, kế là Xiêng Đôồng-Xiêng Thoong và LuangPrabang từ thời vua Fa Ngum (thế kỷ XIV) cho đến ngày nay. LuangPrabang có vị thế thủ đô xứ Lào cho tới khi vua Setthathirat, vì vấn đề địa lý chính trị, quyết định dời đô xuống Vientiane vào năm 1560. LuangPrabang trở lại vị thế đế đô từ 1947-1975.

Từ khi lập quốc LuangPrabang đã bị ngoại xâm tàn phá, cướp bóc nhiều lần. 1479: bởi bộ tộc Thái Đằm (Thái đen); 1525: bởi Việt Nam, triều Lê Chiêu Tông; 1764: bởi Miến Điện; 1887: bởi giặc Cờ Đen

Truyền rằng tượng Phật Prabang do lão tăng Phra Chounla Nark Théra và 500 vị sư khác sùng tạo bằng vàng (có trộn đồng đỏ và bạc để tăng thêm độ bền và sự bóng loáng) quyên góp được từ tín hữu tại đảo Sri-Lanka từ năm 107 trước CN. Prabang là một tượng Phật đứng, hai tay đưa ra phía trước, hơi gấp lại ở khoảng bán thân. Nặng 48 kg, cao 83 cm.

Vào thế kỷ thứ IX, vua Sri-Lanka tặng tượng Prabang cho vua Khmer – Indravarman, người cho xây Angkor Wat. Đến năm 1355, vua Khmer Paramantha Khempraja lại tặng Prabang cho con rể người lào là Chao Fa Ngum (1316-1373), sau khi ông nầy mang quân về xoá triều Mương Xua, thành công năm 1353. Vua Fa Ngum đổi tên kinh đô Xiêng Đôồng-Xiêng Thoong thành đế đô Luang Prabang, lấy tượng Prabang làm biểu tượng quốc gia, xây chùa Pasaman, thờ Prabang như bảo vật trấn quốc. Hiện nay bức tượng trấn quốc Prabang được an vị trong hoàng cung, nay là Bảo Tàng Quốc Gia, tại Luang Prabang. Đương nhiên đây chỉ là bức tượng nhái (copy), bức thật được cất giữ một nơi bí mật khác.

LuangPrabang gồm ba chữ ghép lại. Luang (đọc là luống, do vua Fa Ngum thêm vào) = Lớ ; Pra = Phật; Bang = tụ phúc, cọng đức. Luang Prabang có thể hiểu là tượng Phật lớn được sùng tạo từ công đức của nhiều người, tạm dịch là Tụ Đức Đại Phật Tượng.

Lần đầu tôi đến LuangPrabang vào năm 1972, theo lời mời của một cô bạn tâm thư qua mục Nhịp Cầu Tri Âm trên tờ Phụ Nữ Diễn Đàn. Lần sau vào mùa Tết Tân Tỵ, 2001.

Nghe bảo ngày mốt tôi sẽ đi Mương Luang (LuangPrabang) bằng xe đò, vợ chồng mấy người bạn đều giật nẫy lên, cản và khuyên tôi nên lấy máy bay cho tiện vì bấy giờ khúc đường Vientiane-LuangPrabang vừa xấu vừa kém an ninh, thường xuyên bị đột kích bởi nhóm ly khai Hmông. Tôi nói ” đi bằng máy bay thì vù độ 1 tiếng là tới nơi, bao nhiêu cảnh đẹp, người các bộ tộc ven đường, ven núi ai ngắm, ai quay dùm tớ ?”. Nói vậy nhưng rồi tôi cũng phải nghe lời các bạn, đi bằng máy bay. Ông bạn Pa-Thương (Quyền) bốc điện thoại cái vèo là đâu vào đấy, chẳng là nó có ông em cột chèo người Lào làm chủ một nhà khách (Guest House) ở LuangPrabang, nay qua lời nó tán, cậu em nầy tự nguyện làm hướng đạo cho tôi luôn. Từ máy bay nhìn xuống, LuangPrabang xanh ngát, chập chùng tuyệt đẹp.Sân bay nhỏ, thường. Nhân viên nhập cảnh hầu hết là người Kh’mú và người Hmông. Đón tôi về nhà xong, cậu em KhamĐy hỏi lịch trình của tôi như thế nào trong mấy ngày viếng cố đô. Kỷ niệm về cố đô trong tôi sau bao nhiêu nước chảy qua cầu đều phai nhạt, duy hình ảnh cô bạn nhịp cầu tri âm ngày nào thì vẫn còn nguyên. Do đó, việc đầu tiên tôi nhờ cậu ta là đưa tôi tới ngay địa chỉ nhà cô ấy gần khu chùa Vixun. Cảnh cũ còn đây, bạn xưa đâu tá?

Phố xá LuangPrabang vẫn trầm mặc, gọn gàng, vương giả. Đâu đâu cũng thấy du khách da trắng, nhìn chung dạng ba lô chiếm đa số. Không biết ông bạn Pa-Thương dặn dò thế nào mà tối đầu tiên đó KhamĐy không hỏi ý kiến tôi, đưa ngay tới một nhà hàng Lào, gần hoàng cung cũ, có giàn nhạc cổ truyền Natasine. 80% khách là dân da trắng. Một bữa ăn tối tuyệt vời. Trở về nhà, KhamĐy bảo tôi sáng mai lúc 6 giờ sẽ có buổi Tắc-Bạt (khất thực) dọc đường, dưới chân Phou-Si và thòng thêm câu: anh dậy nổi không? Tôi cười.

Tôi mò dậy lúc 5 giờ. Len lén vác camera đi bộ ra ngay chân cầu thang lên đồi Phou-Si. Trời còn tranh tối tranh sáng. Nửa muốn leo cầu thang lên đỉnh nhưng lại e trễ giờ quay phim buổi khất thực. Bấm bụng đi lòng vòng. Hương Champa (hoa sứ / hoa đại) thoang thoảng trong không gian tinh khiết. Nam nữ tín hữu đã bắt đầu xuất hiện, quỳ trên lề đường Sisavang Vong, trên tay mỗi người đều có một hai típ xôi, một cái khánh (ô) bạc đầy thức ăn. Đoàn tăng lữ Theravada áo cam chân trần có đến 50/60 người nối đuôi nhau, yên lặng đi ngang qua hàng tín hữu đang cung kính nâng khánh bạc lên ngang trán. Mỗi vị sư khi ngừng trước mặt một tín hữu, mở nắp bình bát ra, tín hữu bốc một vắt xôi kèm chút thức ăn, vái một cái rồi bỏ tất cả vào trong bình bát. Hoạt cảnh khất thực kéo dài trong thanh lặng đến khoảng 6 giờ 30 thì dứt. Phố xá bắt đầu lao xao. Vừa lúc Khamdy ra tìm.

Điểm tâm nhẹ trong một quán café bên cạnh Phou Si, xong tôi đưa cho KhamĐy tên các địa danh tôi muốn đến, tùy cậu ta sắp xếp thời gian. KhamĐy định về lấy xe hơi đưa tôi đi, tôi không chịu, tôi bảo chỉ có hai người, tôi khoái đi bằng xe gắn máy, gọn tiện hơn nhiều. Gửi xe với quán café. Chúng tôi leo lên Phou Si.

A. Cảnh quan từ đỉnh Phou Si

Phou Si (Núi Màu) là một ngọn đồi hay núi nhỏ rộng 250m, dài 1.000m và cao 80m. Trên đỉnh Phou Si có That Chom Si (tháp trên đỉnh núi màu, cao 20m). Muốn lên viếng cảnh Phou Si ta phải leo 329 bực thang bằng gạch đỏ, tráng xi măng, sơn trắng. Có mấy trạm nghỉ chân. Hai bên cầu thang phần dưới đất là hai tượng rồng Lào đúc, chầu hai bên rất linh động, dài trên dưới 10m với hàng trăm gốc Champa cổ thụ trên trăm năm tuổi ; thân, cành sần sùi kỳ quái, có gốc to đến 2 người ôm. Thời gian tôi có mặt nhằm tháng hai, hoa tuy ít nhưng hương vẫn ngát. Tháp được dựng từ 1804 dưới triều vua Anourout, Unesco trùng tu lần sau cùng năm 1994, là biểu tượng và trung tâm văn hoá, tín ngưỡng của cố đô LuangPrabang. Hiện nay khuôn viên núi Phou-Si còn lại 5 ngôi chùa. Toàn cảnh trên Phou Si thật cổ kính, thanh thoát ẩn hiện giữa rừng hoa đại. Từ đây dõi mắt, tôi thấy từ xa dòng Nam Khan uốn khúc lặng lờ dưới ánh sương mai, hai bên bờ là màu xanh của các ô vườn hoa trái, rau cỏ, chấm phá dăm bóng người lom khom cắt hái hay qua lại tưới nước. Đảo mắt qua, là cả khuôn viên hoàng cung rộng lớn, vườn thượng uyển vẫn đẹp, trăm hoa vẫn khoe sắc. Bức tượng đồng vua Sisavang Vong vẫn uy nghi đứng giữa trời, lặng nhìn bể dâu dâu bể… Kéo ống kính Camera lại gần, tôi thấy tấm bảng trên cổng vào, có chút thay đổi: Hoàng Cung Vương Quốc Lào nay là Bảo Tàng Viện Quốc Gia CHDCND Lào.

Ngoài ra, ta còn thấy gần xa rất nhiều mái chùa như bọc quanh lấy LuangPrabang: Wat Aham, nơi có Hó Phí Khôn (miếu thần hộ trì LuangPrabang và là nơi cất giữ các mặt nạ Pu Nhơ-Nha Nhơ, biễu tượng tổ tiên người Lào) Wat Mày (Chùa Mới, nơi ở của Phra Sangkharath, tăng thống Phật giáo Lào), Wat Vixun … LuangPrabang có 36 ngôi chùa.

Dừng chân ở góc hướng tây, phóng mắt qua bên kia bờ Mêkông, tôi thấy một ngọn núi có hình thể một người đàn bà nằm quay lưng lại, hỏi KhamĐy, cậu giải thích đó là Phou Nang ( Núi Nàng), cách đó không xa là Phou Thao (Núi Chàng), dưới là bản Xiêng Men. Mốt em sẽ đưa anh qua đó. KhamĐy nói tiếp ” bây giờ em đưa anh đi tham quan cảnh Wat Xiêng Thoong, coi kỹ chùa này thôi, mấy chùa khác em nghĩ không cần, sau đó ta đi Bản Phanôm. Ta phải quay lại, lên Phou Si cho kịp giờ thưởng thức cảnh ráng chiều rơi trên Mương Luang để anh còn tức cảnh làm thơ hoài niệm cái cô nhịp cầu tri âm nào đó … Mai ta dành trọn ngày đi Thác Kuang Sí và Thặm Tìng.

B. Wat Xiêng Thoong

Khuôn viên Chùa Xiêng Thoong nằm ở bán đảo hình thành bởi ngã ba sông Mêkông và dòng Nam Khan. Được sùng tạo dưới triều vua Setthathirat năm 1559-1560. Là ngôi chùa đẹp và quan trọng nhất của LuangPrabang với lối kiến trúc đặc thù Lào, mái cong cong buông xuống gần mặt đất. Wat Xiêng Thoong là ngôi chùa chính bao quanh là những miếu đường nhỏ có cùng một lối kiến trúc, hợp thành một cảnh quan tuyệt mỹ. Từ ngoài vào trong, trên các tường ta thấy cơ man phù điêu, điêu khắc, chạm trỗ công phu, sắc sảo nội dung dựa theo phật tích. Nội thất của Wat Xiêng Thoong phải kể là tuyệt tác. Mỗi miếu đường cũng vậy.

Mỗi năm, vào dịp Pimay Lao ( Tết Lào) mọi chức sắc trong giáo hội Phật giáo Lào cũng như quan chức trong chính quyền tại LuangPrabang đều hội tụ về Chùa Xiêng Thoong hành lễ chào mừng năm mới, rước tượng Prabang từ Bảo Tàng Viện về an vị trong sân Wat Xiêng Thoong, hoà cùng dân chúng, nối đuôi tắm tượng Phật Prabang bằng nước hoa Champa suốt một ngày, biểu hiện lòng sùng tín đối với Phật giáo.

C. Bản Phanôm

Hai chúng tôi đến làng lúc 14 giờ. Từ cổng làng tôi đã thấy thấp thoáng dưới mỗi nhà sàn đều có một vài phụ nữ người Lự đang ngồi dưới khung cửi. KhamĐy dẫn tôi tới một căn nhà sàn khá lớn, có lẽ là chỗ quen biết. Dưới sàn có sáu cô đều còn trẻ. Hai tay đang thoăn thoắt phóng ống thoi qua lại thật điệu nghệ. KhamĐy sổ một tràng tiếng Lự, mấy cô nhìn nhau cười khúc khích. Tôi chấp tay chào mấy cô bằng tiếng Lào, mấy cô đồng thanh chào lại. Hai cô trẻ nhất, độ 22-23, ngưng dệt, đi lên nhà, một lúc sau trở xuống, một cô bưng một khay đu đủ chín và cô kia một khay có hai ba chai nước ngọt. Thế là màn giới thiệu bắt đầu và tôi được dịp thăm hỏi đủ thứ chuyện lẫn quay cảnh các cô đưa thoi.

Làng Phanôm chỉ cách LuangPrabang 3 cs về hướng đông, là một làng người Lự, một bộ tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Thái-kađai, di cư qua Lào từ thế kỷ XVII, gốc vùng Síp Soóng Phăn Na (12 ngàn thửa ruộng), Vân Nam (Trung Quốc), dân số 134.100 người, tản mác khắp miệt bắc Lào. Làng nầy nổi tiếng về nghề dệt và thủ công, đặc biệt kỹ thuật làm giấy bằng bông vải.

Trai gái Lự được tự do tìm hiểu nhau rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn. Con trai phải ở rể vài ba năm rồi ra ở riêng. Người Lự sống tình nghĩa, thủy chung, vợ chồng rất ít ly dị, nếu trai bỏ vợ, gái bỏ chồng đều bị phạt nặng theo tập tục. Người Lự ở nhà sàn, hai mái, mái phía sau ngắn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu thang. Trong nhà có hai bếp, một bếp để nấu ăn và một bếp để đun nước tiếp khách.

KhamĐy sổ thêm một tràng tiếng Lự nữa, các cô cười ồ lên. Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì, chỉ đoán là họ đang trao đổi về tôi. Ăn đu đủ chín, uống nước ngọt xong, tôi bảo KhamĐy đi sâu vô làng. KhamĐy đáp anh đi dạo với cô này, vừa nói vừa chỉ vào một cô xinh nhất, tên Vén Phệt (nhẩn ngọc). Được người đẹp làm hướng dẫn viên tôi mừng quá, cám ơn rối rít. Đi sâu vào làng, đó đây tre xanh cao vút ven đường, rù rì như chào khách. Những xấp ” máy ” (tơ lụa), những fứn sịn ( váy lào), áo cánh, phạ biềng ( khăn choàng)… đủ sắc, đủ kiểu được móc trên vách trong mỗi cửa hàng nho nhỏ, trông như tranh Van Gogh, thật thích mắt. Chúng tôi vào một ngôi chợ khá khang trang, hoàn toàn là đồ dệt và các thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Bản Phanôm. Vén Phệt cho tôi biết, sản phẩm từ Làng Phanôm chỉ được bán tại chỗ và trong chợ đêm LuangPrabang của người Hmông thôi. Tôi nhờ Vén Phệt chọn cho hai xấp, mua về tặng bà xã may sịn (váy lào), một xấp tặng vợ KhamĐy. Tôi có ý muốn tặng Vén Phệt một xấp, cô nàng cười ré lên ” ai lại chở củi về rừng, anh ơi ! “. Ừ ha, rõ thật ngớ ngẩn. Trong làng có chỗ làm rượu cần. Vén Phệt nói gì đó với ông chủ làm rượu, ông đưa ngay ra một hủ độ 5 lít, đặt xuống nền nhà bằng đất, cắm vào ba ống hút cong cong bằng tre dài khoảng 50cm, vui vẻ mời tôi và Vén Phệt. Tôi vốn chỉ uống được bia nhẹ, từng nghe nói tới loại rượu cực mạnh nầy nên do dự, sợ bị vật lăn quay ra đây thì chẳng ra thể thống gì. Ông chủ nhà rượu cũng tinh ý, bảo tôi ” hủ nầy mới cất, nồng độ chưa cao, anh thử chút cho biết, không say đâu ; mà dẫu có say thì đã có cô đây đưa về nhà … cô ta. Đến từ xa mà không thử đặc sản nầy thì uổng quả. Tây làm gì có thứ nầy “. Nễ tình, tôi hút hai lần, mỗi lần hai hơi. Cay sè. Nuốt xuống cổ mới có chút vị ngọt. Hai người kia họ hút liên tục. Ngồi một lúc, tôi móc tiền ra trả, chào để đi tiếp, ông chủ khoát tay cười ” tôi mời hai người mà, anh đưa hủ nầy về Pháp tập uống, mai mốt trở lại, về đây uống suốt đêm với tụi nầy”.

Ra khỏi quán rượu cần, Vén Phệt đưa tôi tới một nơi làm giấy. Thợ làm giấy cũng toàn mấy cô. Tôi thấy mấy chục khung giấy điểm hoa văn được dựng phơi trước chòi. Nhìn dụng cụ của họ tôi không hiểu với bí quyết nào mà họ có thể lèn những hoa văn màu lên mảng giấy bằng bông gòn trắng mỏng tanh đó được. Đồ nghề họ sử dụng chỉ là một khung lưới rộng chừng 80cm x 80cm, lỗ nhỏ li ti. Một chậu nước cũng hình vuông to gấp đôi khung lưới. Vật liệu tôi thấy là bông gòn trắng phau. Có thể còn nhiều công đoạn mà họ giấu. Loại giấy nầy có phải người mình gọi là giấy dó chăng ? Nhưng loại giấy nầy sẽ làm tôi ngạc nhiên hơn nữa khi viếng cảnh Thác Kuang Sí.

Hồi sáng, từ đỉnh Phou Si tôi đã thấy trời-đất-nước LuangPrabang dưới ánh bình minh, tranh thủy mạc Trung Quốc phải nói là chưa thể so sánh được. Vì đó là một bức tranh thiên tạo ngẫu hứng, ngắn, duy nhất, không bao giờ có bức thứ hai y như thế. Ống kính camera DV đã ghi lại đầy đủ: cũng chỉ là bản sao vì thiếu khoảnh khắc sống.

Từ thuở còn học trung học tôi đã có nhiều kỷ niệm liên quan với hoàng hôn về trên sông. Nói cách khác, hoàng hôn là chứng nhân của nhiều kỷ niệm học trò trong đời tôi, từ đó hoàng hôn đã trở thành nỗi ám ảnh hay một đam mê trong tôi. Bất cứ đặt chân đến nơi nào có sông, có suối, nói chung là có bến nước, thế nào tôi cũng tìm hỏi bạn bè hay cư dân không và thời gian đẹp nhất khi hoàng hôn về trên sông của địa phương đó.

KhamĐy thả tôi dưới chân Phou Si, hẹn trở lại một tiếng sau ” em về tắm rửa trước, tối nay vợ chồng em có mục dành cho anh”. Tôi leo lên lại, đến đỉnh lúc 18 giờ 15. Khách chờ thưởng lãm hoàng hôn đã lố nhố tự bao giờ, hầu hết là khách da trắng, có một cặp người Nhật hay Đại Hàn khá lớn tuổi. Tất cả yên lặng, như nín thở. Chờ. Tôi châm điếu thuốc và trong một sát na, cuốn phim 30 năm về trước chập chờn theo khói thuốc…

Màn trời trắng bạc, vân xanh nhạt chuyển dần theo màu cam lửa từ cái đĩa tròn vo đang từ từ hạ xuống bên kia hai ngọn Phou Thao (núi chàng), Phou Nang (núi nàng), phản chiếu xuống dòng Nam Khan thành hai cái cùng một màu, nhưng với hai diễn biến khác nhau. Cái ở trên, nghiêm nghị uy nghi. Cái ở dưới, óng ánh, lung linh, nhấp nhô theo triều nước. Cái ở trên có mây ngủ sắc vờn quanh, có cánh chim lượn tiển. Cái ở dưới có thêm dăm bóng thuyền chài soi bóng.

Bức tranh nầy hoạ sĩ nào ghi lại nổi, nói chi tưởng tượng. Huống hồ ” văn sĩ ” như tôi. Cao xanh đã ưu ái dành cho LuangPrabang một khoảng không gian với hai mốc thời gian miên viễn tuyệt vời…

Tôi xuống đến chân cầu thang thì đã thấy KhamĐy ở đấy. Cậu em hỏi tôi ” sao anh, tuyệt ha. Thế từ trên đó xuống đây, anh đã có ý tứ gì chưa?”. Tôi trả lời ” đâu chỉ có ý tứ thôi, mà đã làm và chiếu xong một cuốn phim Tâm Thư Hoài Niệm và đã cất lại trên đó luôn rồi “.

Chương 3: Động Ẩn Sĩ & Thác Kuang Sí

Make a Comment

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Liked it here?
Why not try sites on the blogroll...

%d bloggers like this: