3. Động Ẩn Sĩ & Thác Kuang Sí

Posted on 29.10.2009. Filed under: Xứ Lào - nửa trái tim tôi | Tags: |

Hơn nửa ngày viếng cảnh, đừ người, chỉ muốn về tắm vội rồi leo lên giường … ghi sổ tay. Cuộc đời đâu đơn giản vậy. Vừa bước vào phòng khách tôi thấy 8, 9 người ngồi chuyện trò quanh salon, vợ KhamĐy đang bưng khay nước mời họ. Thấy tôi, vợ KhamĐy nói ” à, họ đây rồi “. Theo phản ứng tự nhiên tôi chấp tay chào mọi người. KhamĐy lên tiếng ” xin giới thiệu cùng các bạn, đây là anh Th., bạn anh Pa-Thương, từ Pháp về. Khới hạng (rể hụt) Mương Luang của chúng mình đó ! ” Tôi cười, lại chấp tay lên tiếng chào thêm lần nữa. ” Còn đây là vài nguời bạn của vợ chồng em. Hai cặp nầy là người Kh’mú U. Cặp nầy người Hmông. Chú nầy người Việt. Hai chị em nầy người Phou Noi “. Nghe lời giới thiệu của KhamĐy, tôi sướng mê người, bao nhiêu nhọc nhằn biến đâu cả, trừ cái nóng dẫu là tháng hai. Tôi xin phép được đi tắm một cái, rồi tính sau. Pa-Thương quả được chuyện, không có nó “ngoại giao” làm gì mình tụ được bức phác hoạ tộc người nầy. Tôi thầm cám ơn vợ chồng KhamĐy cùng thằng bạn tốt bụng và tế nhị. Hèn gì mỗi lần gặp lại, chúng nó cứ bảo ” mầy đã làm được ít việc mà tụi tao không nghĩ tới, cá nhân tao chỉ có thể giúp mầy ba chuyện lăng nhăng thôi “. ” Như vầy mà là ba cái chuyện lăng nhăng, mầy thật khéo nói, xiều (bạn quí) ạ”. Vừa tắm tôi thú vị nghĩ đến thằng bạn từ thuở mài đũng quần xà-lỏn trên ghế trường tiểu học việt ngữ Lạc Hồng. Bước ra phòng khách tôi thấy trên bàn đã được phủ một lớp đĩa đầy thức ăn Lào. Ông người Việt lên tiếng bằng lào ngữ ngay: – Tôi nghe nói falăng (tây) tắm lâu lắm mà, sao bạn làm lẹ vậy ? Tôi phịch cười: – Có thể falăng tắm lâu thật, còn tôi có phải falăng đâu, 26 năm ở Pháp, thời gian dài hơn thời gian tôi ở xứ Lào, tôi biến thành ” chệc ” (Tàu) thì có. – Nghĩa là thế nào? – Lúc trước ở xứ nầy người lào gọi tôi là ” bặc keo” (thằng việt), về Việt Nam họ cho tôi là “thằng lèo”, qua Pháp, tây-rệp-lọ kêu tôi là ” thằng chệc ” (le chinois / the chinese). Mọi người cười ồ lên. – Thế anh thấy anh là người gì? Cô người Kh’mú hỏi. – Tôi tự ví tôi như sỉn sám sẳn (thịt ba chỉ) và ví con cái tôi như quả chuối chín. – Thịt ba chỉ thì tụi nầy hiểu vì anh mới nói ở trên, nhưng quả chuối chín thì xin anh nói rõ. – Có gì đâu, chuối chín vỏ vàng, ruột trắng. Tôi có vợ việt, con cái đều sanh ra tại Pháp, tức là da vàng. Các cháu nói được tiếng việt, nhưng cách suy nghĩ, lối sống là cậu tây, cô đầm cả, nghĩa là tâm hồn âu tây. Điều tôi hằng áy náy là đã không dạy các cháu nói được tiếng Lào. – Hẳn anh đã có quốc tịch Pháp, thì anh là người Pháp rồi? – Đúng vậy, tôi nhập Pháp tịch từ 1986. Đối với nước Pháp tôi là một công dân gồm mọi bổn phận và quyền lợi nhưng trong đời sống hàng ngày, người Pháp chính thống hay người da trắng nói chung coi tôi là người á châu. Mà bản thân tôi, trong tiềm thức, kiếp nầy tôi mãi mãi là người việt-lào. – Xin lỗi, hỏi anh câu nầy hơi tò mò, anh có tên Tây không? – Không. Trước ở Lào tôi vẫn giữ quốc tịch Việt, dù chưa bao giờ được quyền bỏ phiếu các cuộc bầu bán tại Việt Nam. Con cái tôi cũng không có tên Pháp. Nhập Pháp tịch, chính phủ Pháp không có điều khoản nào bắt buộc bất cứ ai muốn có quốc tịch Pháp phải lấy tên Pháp cả, tùy quyết định và chọn lựa của cá nhân người đó. Khác hẳn ở đây, vào quốc tịch Lào là phải chọn tên họ Lào. Các món ăn trên bàn tôi đã quen ăn từ nhỏ, bên Pháp có đủ cả trừ món đặc sản nổi danh của LuangPrabang là món Chèo boong Mương Luang trộn da trâu thái mỏng. Tôi vốn dốt đặc trong chuyện bếp núc, song thiết tưởng nhân đây cũng đáng chép giới thiệu cùng các bạn món ăn đặc thù LuangPrabang nầy. Cheo boong Mương Luang là một loại tạm gọi là ” ruốc ” hay thức chấm vừa ngọt vừa cay, có thể dùng ăn kèm với xôi, thịt khô, cá nướng …, ngon lạ lùng. Vật liệu chính là tỏi, ớt, tôm khô, nước mắm, mật, đường, gừng và da trâu. Cách thức chế biến mời các bạn vào đây: http://laos.luangprabang.free.fr/gastronomie/recettes/Tio_Bong.htm. Buổi họp mặt rất thú vị vì ai cũng dùng ngôn ngữ quốc gia là tiếng Lào. Và trong buổi họp mặt bất ngờ nầy, cũng chính ông gốc việt, khi có cơ hội, cố ý lái tôi vào khía cạnh chính trị, tôi ý thức được hoàn cảnh tế nhị nên du di ” Thiên Long Bát Bộ ” lách ra an toàn. Tựu trung cả chín người bạn mới đều ” đứng núi nầy, trông núi nọ “. Cũng là chuyện thường tình. Bộ Tộc Kh’mú U Ở Lào có ba nhóm người Kh’mú: Kh’mú U (506.250 người), Kh’mú Rok (56.250 người) và Kh’mú Me (39.375 người). Tổng cộng bộ tộc Kh’mú U là bộ tộc đông dân thứ nhì sau bộ tộc Lào (1.800.000 người). Người Kh’mú U, gốc từ Trung Quốc, có mặt tại Lào từ thế kỷ XI, sinh sống chủ yếu trong bốn tỉnh bắc Lào: Houaphăn, Phôôngsaly, Vientiane và LuangPrabang. Tiếng Kh’mú U thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer/Nam Á (Austro-asiatique). Người Kh’mu theo tín ngưỡng dân gian tức thờ ” Phí ” (ma), sinh sống bằng nghề nương rẫy. Bộ Tộc Phou Noi Bộ tộc Phou Noi có khoảng 50.000 người, sinh sống quanh vùng Phongsaly và LuangPrabang, bắc Lào. Gốc gác từ Nam Trung Quốc.Tiếng Phou Noi thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Người Phou Noi thường lập thành các nhóm nhỏ, từ 10 đến 20 căn nhà làm bằng gỗ hay tre. Phương tiện sinh sống chính là săn bắn, làm rẫy. Bộ Tộc Hmông Trước kia người Lào dùng từ Mẻo, người Việt dùng từ Mèo để chỉ định bộ tộc Hmông, đọc trại từ chữ “Miêu” theo cách gọi của Trung Quốc, nơi xuất phát của bộ tộc nầy. Nhưng chính họ, bộ tộc nầy, lại khẳng định họ là bộ tộc Hmông, nghĩa là người. Người Hmông di cư qua vùng bắc Lào vào khoảng hậu bán thế kỷ XVII. Tiếng Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao, Hán-Tạng. Trong nhiều thập niên người Hmông sống bên lề xã hội Lào, không có quan hệ với hành chính Lào. Họ thích sống trên rẻo cao, có trình độ sản xuất nông nghiệp thâm canh, chăn nuôi giỏi và có một nền văn hoá dân tộc độc đáo. Người Hmông được biết tới từ năm 1918, dưới thời Pháp thuộc, nhân một cuộc bạo loạn mà nguyên nhân chính do thực dân Pháp áp đặt khổ dịch và thuế khoá quá cay nghiệt đối với họ. Từ 1920 đền 1945 là khoảng thời gian vàng son của người Hmông trong việc trồng hoa Anh Túc (cây thuốc phiện). Năm 1945 là một khúc rẽ quyết định tương lai của bộ tộc nầy trước sự lựa chọn giữa nền Quân Chủ Lào ( hậu thuẩn bởi mặt trận Pháp Tự Do) và phong trào độc lập Lao Issara (hậu thuẩn bởi Việt Minh và Phát Xít Nhật). Bấy giờ, dưới sự lãnh đạo của ông Touby LyFoung, người Hmông đã chọn đứng về phe Quân Chủ Lào và Pháp Tự Do, và trở thành tử thù của cộng sản Lào-Việt. Sau biến cố chính trị tại Lào cuối 1975, ông Vang Pao, ông Touxoua LyFoung (con trai ông Touby) và 200.000 đến 250.000 người Hmông chạy qua Thái Lan xin tỵ nạn cộng sản rồi được rãi ra khắp thế giới: Hoa Kỳ có 140.000 người, Pháp và Guyane thuộc Pháp: 15.000 người …, số còn lại qua Australia, Canada. Một số cố trụ lại Thái Lan vì vẫn hy vọng được trở về với núi rừng trên đất Lào. Theo thống kê năm 2004, ở bắc Lào còn 355.000 người Hmông, gồm Hmông Đẩu (Trắng), Hmông Đu (Đen), Hmông Lềnh (Hoa), Hmông Lia (Đỏ) và Hmông Xua (Xanh). Thế giới đã và đang chuyển từ đối đầu qua đối thoại, do đó theo tôi nghĩ bộ tộc chủ thể độc quyền ở Lào và bộ tộc Hmông nói riêng, nếu đôi bên thật tâm trân quí xứ sở đất rộng, người thưa nầy, không thể kéo dài lâu hơn nữa sự đối nghịch vô ích. Tôi mong sớm có cuộc đối thoại. Đối thoại chứ không độc thoại. Đồng thuận hàng ngang chứ không ai ép ai đoàn kết sau lưng ai cả. Cho đến nay người Việt sinh sống ở Lào, chưa nhập tịch, vẫn được coi như ngoại kiều, chưa là một bộ tộc. Sẽ có một bài riêng cho đề tài nầy. Thặm Tìng ( Động Ẩn Sĩ ) Chín người bạn mới kể trên đều là công chức trong các cơ quan hành chánh. Một trong hai chị em người Phou Noi làm việc tại sân bay LuangPrabang. Tất cả đều có nhà trong phố, chiều thứ sáu, tan sở họ về làng, sáng thứ hai đi làm luôn, trừ ông gốc việt. Gia đình hai cô Phou Noi ở làng Xiêng Men, bên kia sông, là nơi tôi dự định qua viếng trong ngày mốt, thứ bảy. Tôi cố tìm sử liệu về động Thặm Phum và Thặm Tìng ở Pak U (Pak = miệng , U = sông U. Pak U = Cửa sông U) mà đành chịu, đâu đâu cũng chỉ nói đại khái ” đã được phát hiện từ lâu lắm rồi “. Bản Pak U có hai cái động nổi tiếng là linh địa của tín hữu Phật giáo Lào tại LuangPrabang: Thặm Prakalay = tên một đồ đệ của Đức Phật hay Thặm Phum (động trên) và Thặm Lư Sí = Động Ẩn Sĩ hay Thăm Tìng (động dưới). Pak U cách LuangPrabang 35 cs phía thượng lưu sông Mêkông. Có thuyền đưa khách tới nơi nhưng vì ngược dòng nên phải mất khoảng 2 giờ và chuyến đầu tiên thường tách bến lúc 10 giờ sáng, khi đã đủ số khách. KhamĐy đề nghị đi bằng xe hơi, tôi vẫn giữ ý dùng xe gắn máy và lên đường lúc 8 giờ sáng. Trên đường đi chúng tôi qua nhiều làng Kh’mú, làng Hmông và làng Thái đằm (thái đen). Đường khá tốt. Đến làng khoảng 9 giờ mà khung cảnh đã nhộn nhịp, 2 chiếc xe ca cỡ nhỏ, 4, 5 chiếc Túc-túc (loại xe lam) đầy khách da trắng và nhật bản có mặt tự bao giờ. Động Pak U nằm trong dãy núi đá vôi, bên kia bờ sông U. Có thuyền đưa qua, mất khoảng 15 phút và 1 đô la / người. Đây là nơi hành hương hàng năm của người Lào trong dịp Pimay (Tết Lào), từ khi Lào mở cửa Pak U liền biến thành địa danh thu hút khách du lịch thế giới. Hai chúng tôi qua tới chân cầu thang để vào động lúc 10 giờ. KhamĐy bảo mình chỉ vô Thặm Tìng thôi, cảnh trong đó sáng rõ nhờ ánh mặt trời chiếu vào. Thặm Phum tối mù, phải cầm đuốc, nên ít người vào. Từ cầu thang nhìn vào Thặm Tìng đã thấy bao nhiêu tượng Phật. Xuôi theo cầu thang, khi lên khi xuống, lúc đầu tôi còn bày đặt nhẩm đếm, nhưng chỉ một lúc sau là ngậm tăm chiêm ngưỡng. Chao ôi, Phật đâu mà lắm thế nầy, đủ cỡ đủ loại (đa số là Phật đứng, đặc điểm Phật ở LuangPrabang), gỗ, đồng, xi-măng. Đúng là một động Phật. Phải vài thế kỷ mới tụ được ngần nầy tượng Phật. Cảnh thạch nhũ trong lòng động cũng ly kỳ nhưng bị số tượng che mờ đi. Từ trong động nhìn ra cảnh trời nước buổi sáng thật đẹp, bên kia bờ thấp thoáng những mái nhà sàn ẩn hiện trong màu xanh của lá chuối và tre. Năm 1996, nhóm khảo cổ Australia đã làm thống kê động Pak U, được 8.126 bức tượng lớn nhỏ. Một bảo tàng khổng lồ như thế mà không hiểu sao không có một cơ quan nào bảo quản hay canh giữ ban đêm, chả trách thỉnh thoảng các ” tín hữu ” Thái Lan dùng thuyền cao tốc (speed-boat), đột nhập, ” thỉnh ” nhẹ vài vị đem “phổ biến” ra thị trường đồ cổ Âu-Mỹ: http://www.asie.online.fr/laos.html KhamĐy đi với tôi đủ một vòng là xuội lơ, có thể tại cậu em đến đây nhiều lần rồi nên hết hào hứng. Tôi làm vòng thứ hai một mình, đi thật chậm. Vừa xem vừa trộm nghỉ ” thế nầy đúng là họ đã biến ông Bụt thành ông thần nhiệm mầu vạn năng, có phép thưởng lành, phạt ác … Rồi bổng dưng tôi liên tưởng tới Lourdes bên Pháp, nơi tôi có đến hai lần. Lần đầu đi coi vợ chồng bà chị cả đến tạ lời nguyền, chẳng là họ mới bán được giá cái nhà hàng ở phố biển. Lần sau nhân đi công tác mấy ngày ở Tarbes, tây nam Pháp. Tượng Đức Mẹ Maria tràn ngập thánh địa hành hương nầy, chu vi mênh mông quanh hang Massabielle là một siêu siêu thị tượng nước thánh, đủ mọi giá cho mọi túi tiền, mọi niềm tin. Niềm tin vợ tôi nghèo nên lần đầu thỉnh được mỗi một bức bằng nhựa đầy nước thánh cỡ 13cm x 3cm, có biên lai đàng hoàng: 4,50 Euros. Trở lại làng Pak U, KhamĐy đưa tôi đi một vòng. Địa danh nầy đã thành khu du lịch nên các chòi hàng rất đa dạng, nhìn trang phục của mấy cô bán hàng KhamĐy giải thích cho tôi họ thuộc bộ tộc nào, ngoài mấy bộ tộc đã nói qua còn có người Ka Sắc, người Phuôn. Tôi để ý hàng mỹ nghệ Made in China hầu như lấn hẳn hàng thủ công đặc thù thổ nhưỡng. Gần làng Pak U có làng Xang Hay nổi tiếng với “lậu lao” (rượu đế Lào, không phải rượu cần), cất từ nếp trắng. KhamĐy khoe có nhiều bạn bên đó, tôi càng ngại lập lại trường hợp phải uống rượu như ở làng PhaNôm nên không muốn qua, hắn biết ý cười hề hề ” anh yên chí, không ai ép anh đâu, anh cứ tự nhiên lai rai với Khới Lao (rể lào) của anh”. Trên chai bia lào có đề chữ bia bằng chữ Lào nhưng đọc qua chữ Thái Lan lại thành chữ Khới (rể). Thác Kuang Sí Thác Kuang Sí cách LuangPrabang 30 cs hướng hạ lưu sông Mêkông nên chúng tôi quyết định quay lại LuangPrabang ăn vội mỗi đứa một tô bún cá, nấu kiểu lào. Trời nắng chang chang nên khi KhamĐy đề nghị về lấy xe hơi, tôi đồng ý liền. Chiếc Citroën LNA màu trắng, mới sơn lại, máy còn êm. Xe mới chạy độ mươi phút tôi đã ngủ khì nên chẳng thấy gì dọc đường. KhamĐy lay tôi dậy khi xe bắt đầu vào địa phận Kuang Sí. Có bãi đậu xe cách thác độ 500 m. Tiếng thác vọng ra. Hai bên con đường đất đỏ dẫn vào có mấy cái quán, KhamĐy bảo, ở đây thuộc quyền khai thác của người Kh’mú, trên nguồn thác có làng Hmông. Muốn vào coi thác mỗi người đóng chút lệ phí (tôi không nhớ bao nhiêu). Đang mắt nhắm mắt mở, tôi khựng người trước quang cảnh hiện ra … Cả một không gian rộng lớn với ba màu chính, trắng xoá là trời và nước trên núi đổ xuống, xám-nâu là màu của núi, xanh cẩm thạch là cỏ cây bao quanh và cái hồ ngay chân núi ! Chao ôi, cảnh đâu có cảnh kỳ diệu thế nầy, bút mực nào tả cho được muôn một. Dưới tàng cây, Ban Quản Trị tế nhị đặt đó đây một hai cái ghế dài bằng gỗ cho khách nghỉ chân và ngồi chiêm ngưỡng tuyệt phẩm của hoá công. Có một cái cầu gỗ bắc ngang hồ cẩm thạch tiến vào gần chân núi. Trong một tíc tắc tôi lại trộm nghĩ những triết nhân sống về nghề nói tới cõi trên sao không chịu khó tới đây, dựa vào khung cảnh Kuang Sí để làm cơ sở cho lời thuyết dụ. Cõi trên là đây, tìm đâu cho xa ! Tôi buột mồm đọc ngay: Triết nhân là kẻ có thừa Dù cho cái có là chưa có gì. Thường nhân là kẻ ngu si, Quẳng đi cái có khổ vì cái không ! (Nguyễn Chí Thiện) Ông cụ Marcel Proust thật là chí lý khi bảo ” Cuộc du lịch khám phá đích thực không cốt để tìm cảnh mới mà để có những cặp mắt mới ” (le véritable voyage de découverte ne consiste pas à chercher de nouveaux paysages mais à avoir de nouveaux yeux). Tôi lanh quanh non hai giờ trong cõi tiên, khi nhìn lại KhamĐy đã ra ngoài, khách viếng cảnh chỉ còn mình tôi. Trời đã bắt đầu chiều, Kuang Sí càng kỳ ảo. KhamĐy ngồi uống nước dừa trong một cái quán có bày bán nhiều kỷ vật tạo bằng các ống tre nhỏ. Tôi cũng gọi một trái dừa. Ngồi chuyện vãn với ông chủ quán một lúc, bổng KhamĐy hỏi tôi ” anh có biết cái nhà bên cạnh nầy là nhà gì không? Đây là nhà của một hoạ sĩ người Phuôn, ổng ra đây để vẻ. Căn nhà sàn nầy chính ổng bỏ tiền ra cất lên trên đất của ông chủ quán, hợp đồng là năm năm sau nhà sẽ thành của ông chủ quán.” Tôi nhìn sang, thấy căn nhà sàn khá rộng, mới vướng chút màu thời gian, cửa đóng kín. Tôi tò mò hỏi ông chủ quán, tôi muốn gặp ông hoạ sĩ được không? Ông chủ quán sai cậu con trai nhỏ vô làng gọi ông hoạ sĩ. Một lúc sau ông hoạ sĩ theo cậu bé ra quán. Đó là một người khoảng 35/36, mặt mày sáng sủa, tóc tai bồng bềnh, rất tỉnh thành, rất nghệ sĩ. Sau màn giới thiệu, tôi biết ông hoạ sĩ tên Phone Anou ra Kuang Sí đã hơn một năm, ổng mời KhamĐy và tôi lên nhà. Trong nhà không ngăn phòng, chia bếp gì cả, đồ đạc chẳng có gì ngoài một cái nệm đủ cho hai người, còn là tranh và tranh, nhiều bức đã đóng khung, một số còn dang dở. Những bức đã đóng khung nhìn vào tôi chẳng hiểu gì cả, đại loại nhân vật nữ thì 3 hay 1 mắt, cổ cò, ngực bên to bên nhỏ …, nhân vật nam thì mặt mày hom hem như dân cai nghiện, môi miệng như mái hiên, tỉnh vật thì méo mó … màu sắc hoặc quá loè loẹt hoặc quá âm u. Chẳng thấy bức nào về Kuang Sí. Tôi thấy trong ông hoạ sĩ có cái lộn tùng phèo chút Picasso, chút Van Gogh, chút Modigliani … tóm lại là ông hoạ sĩ bị bệnh bắt chước âu tây ! Xem xong một vòng tôi hỏi: – Anh vẻ chủ yếu để bán cho ai ? – Cho khách du lịch falăng (da trắng). – Anh đã bán được mấy bức từ khi ra đây ? – Chưa được bức nào. – Làm sao anh sống ? – Thú thật với anh, tôi đang kẹt lắm, vốn liếng gom góp mấy năm một phần bỏ vô căn nhà, một phần nằm ụ trên những tác phẩm nầy. May mà có thằng em ở LuangPrabang tiếp tế …Hai anh thấy thế nào ? KhamĐy trả lời : – Tôi không biết gì về hội hoạ. Anh vẻ tôi không hiểu gì cả, nhìn vào tôi sờ sợ … – Tôi cũng không hiểu, nhưng hình như anh muốn diễn tả sự khắc khoải nội tâm cùng cực đến biểu hiện ra ngoại hình gì gì đó. Tôi lên tiếng. – Đại khái là vậy. Phone Anou trả lời. – Nói thật anh đừng buồn.Cá nhân tôi, đến từ nước ngoài, nhưng không bao giờ tôi mua những bức tranh nầy … – Xin anh thẳng thắn cho biết lý do. – Theo tôi, anh đã phí công, phí của vô ích. Khách du lịch da trắng đời nào họ chịu bỏ tiền ra để chở củi về rừng. Bản thân anh, anh phải biết rõ hơn ai hết là mình đang bắt chước hội hoạ âu tây. Nói xong, tôi kể lại chuyện tôi bị cô Vén Phệt làng PhaNôm cười diễu ra sao khi tôi muốn tặng cô ấy xấp vải của Bản PhaNôm. – Tôi ra nghề gần bốn năm nay, cứ nghĩ tụi da trắng có trình độ thẩm thấu, thích tranh lập thể, siêu thực nên hơn một năm nay tôi bỏ lối vẻ lào để theo trào lưu và thị hiếu tôi đọc được trong sách báo… – Họ lặn lội qua đây là để tìm cái Lào, cái lạ chứ tìm chi ba cái xanh đỏ, méo mó mà họ đã chán ngấy kia. À, anh có thể cho tôi coi mấy bức tranh lối cũ của anh không ? Phone Anou đứng dậy, lôi ra từ trong góc nhà một cuộn tranh to tướng, trải ra giữa sàn nhà. Tôi nhờ KhamĐy ra quán mua mấy chai bia lào với vài món thịt rừng nấu chín. Trong nầy tôi thủng thỉnh coi từng bức tranh một. Có nhiều bức về thác Kuang Sí, rất đẹp nhưng tôi đã bị cảnh thật hớp hồn, vả lại đã quay được nguyên một cuốn phim kỹ thuật số 60 phút nên trả bản vẻ lại chỗ cũ. Có mấy bức chân dung người các phầu (bộ tộc), vẻ bằng bút chì, thật linh động. Tôi lựa được hai bức, cẩn thận để riêng ra một bên, không nói gì. KhamĐy mua bia và đồ nhậu về, có cả xôi. Ba đứa vừa ăn uống vừa nói chuyện linh tinh. Phone Anou mời tôi và KhamĐy ở lại, tối anh đưa đi nghe các cô người La Mệt lăm (hò), sáng mai nghe thác Kuang Sí hát dưới bình minh. KhamĐy nhắc tôi cái hẹn với hai chị em Phou Noi bên làng Xiêng Men. Tôi đành từ chối. Một lát sau, tôi nói với Phone Anou: – Tôi chọn hai bức bằng màu nước đen trắng nầy. Loại giấy anh dùng có phải đến từ Ban PhaNôm không? – Đúng vậy, tôi có cô bồ người Lự. Mà sao anh lại chọn hai bức nầy ? Hai bức phóng hoạ tôi thích nhất được dùng bột màu đen, hoà nước vẻ lên tấm giấy dó 80cm x 80 cm màu ngà. Một bức vẻ cô người Lự gánh nước, áo cánh trắng, sịn (váy) đen. Bức kia là thiếu niên một tay vác cày, tay kia cầm cái cào cỏ, có một chú chó con đi trước. Nét vẻ khoáng đạt, đậm nhạt phóng túng. – Tôi vẻ hai bức nầy có nửa tiếng à. – Anh cho biết tổng cộng bao nhiêu ? – Tôi xin tặng anh làm kỷ niệm buổi tương ngộ nầy. – Không, xin anh cho biết giá. Nói qua nói lại một hồi, Phone Anou đành ra giá : 10.000 Kips hai bức (1USD) Tôi im lặng, nghe xót xa chạy thẳng vào tim, đứng dậy xin đi vệ sinh. Khi trở ra tôi thấy hai bức tranh đã được cuốn tròn bỏ vô một ống tre.Tôi đưa cho Phone Anou một xấp tiền Lào. Cậu ta hoảng lên: – Sao nhiều vậy anh? – Tôi thích hai bức tranh quá nên tự ra giá, xin gửi anh 300.000 Kips. Phone Anou cầm xấp tiền, nhìn tôi đăm đăm. KhamĐy cũng vậy. Bất chợt Phone Anou quỳ xuống, hướng ra cửa, chấp tay vái lia lịa: – Mẹ ơi, con có tiền về quê thăm Mẹ rồi! Chương tiếp: Cuộc hẹn bên Làng Xiêng Men

Make a Comment

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Liked it here?
Why not try sites on the blogroll...

%d bloggers like this: