6. Packsane

Posted on 29.10.2009. Filed under: Xứ Lào - nửa trái tim tôi | Tags: |

PAKSANE

Quốc lộ 13 là con đường nối liền Vientiane và các khoéng (tỉnh) phía nam xứ Lào, chạy ngang qua sinh quán của tôi, Savannakhet, rồi xuống tận biên giới Lào-Kampuchia. Tôi không nhớ nổi tôi đã đi-về qua chặng đường nầy bao nhiêu lần, kể từ mùa thi 1967, lần đầu tiên tôi được gia đình thưởng cho lên viếng cảnh thủ đô. Kể từ bài nầy tôi sẽ cùng bạn đọc xuyên Lào, qua luôn bên kia biên giới Lào-Kampuchia bằng 2 phương tiện: Xe và thuyền.

Nhìn trên bản đồ, Borikhamxay là vùng đất nằm ngay trung tâm xứ Lào. Borikhan là tên cũ trước 1975 của Borikhamxay, gồm sáu mường: Tha Phabath, Pakkađing, Borikhan, Khamkeuth, ViêngThong và thủ phủ Paksane (đọc Pạc-Săn), tâm điểm của bài nầy. Borikhamxay nằm ở hướng nam Vientiane, địa hình thuộc vùng trung du, rừng nhiệt đới, thác ghềnh ngoạn mục. Đông giáp Việt Nam, qua biên giới Lào-Việt bằng ngã Lak Sao, đường số 8, cảnh đẹp ; phía Việt Nam là cửa khẩu Cầu Treo (đèo Keo Nứa) gần thành phố Vinh, Nghệ An. Tây giáp Thái Lan, biên giới là sông MêKông, tỉnh Beung Kan.

Diện tích: 14.863 cs vuông (Borikhamxay = Borikhan (cũ) + 1 phần Vientiane + 1 phần Xiêng Khoáng, sau 1975) ;

Dân số (2004): 164.900 người (3.41% tổng số quốc dân)

gồm nhiều bộ tộc (phầu) thuộc nhóm tộc Lào-Thái (77.51%), đặc biệt kể từ đầu thập niên 1970 khi không quân Hoa Kỳ tăng cường độ oanh tạc và san bằng Xiêng Khoáng, người Phuôn ở Xiêng Khoáng lánh nạn về đây, ước tính thời đó là 12.000 người, nay là bộ tộc đông nhất.

Mương Paksane được thành lập từ năm 1890, cách Vientiane 147 cs về hướng nam, nằm ở ngã ba dòng Nam San và sông Mêkông, cư dân hiện nay là 35.000 người. Paksane vừa là trung tâm hành chính và thương mại của Borikhamxay, vừa là trục thông thương và trạm nghỉ chân cho hầu hết các tuyến xe đò hai chiều (hay các phương tiện đường bộ khác) giữa Vientiane và các tỉnh phía nam, đặc biệt từ thập niên 1980 sau khi quốc lộ 13 được chính phủ Thụy Điển đài thọ việc nâng cấp, tráng nhựa – đoạn Vientiane-Paksane ; Trung quốc : đoạn Paksane-Khammouane ; Nhật bản: đoạn Khammouane-Champassak.

Là một thủ phủ lại không quá xa thủ đô nhưng đặc điểm của Paksane là sắc thái đậm nét hương thôn trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày. Paksane là một thủ phủ đặc thù vì được chia ra thành nhiều bản, nhiều làng, trước hay sau 1975 cũng vậy, do đó khách viếng Paksane sẽ không có cảm tưởng chia cách giữa tỉnh thành và làng quê, ít ra cũng cho tới khi tôi thấy lần cuối (05/04). Phải nói thòng vậy khi mà cái được, cái mất từ đập thủy điện khổng lồ Nam Theun 2 (Nảm Thơn 2)(1), trong tương lai đếm bằng tháng, sẽ ảnh hưởng như thế nào tới con người, cũng như môi trường và cảnh quan hoang sơ tuyệt đẹp của Paksane, không ai lường trước được. Cái được chính hẳn kẻ đầu tư và những người đồng thuận ngồi trên đã tiên kiến, đã nhân chia trừ cọng rạch ròi. Cái mất ra sao dân quê Paksane nói riêng rán chống cày chờ và chịu như đã từng chịu điều phi lý khó tin nhưng có thật : Từ 1996, toàn thể Paksane có điện từ đập thủy điện Nam Theun 1 (Lào) nhưng lại được cung cấp từ … Thái Lan, nghĩa là Thái Lan ” mua sĩ ” điện của chính quyền Lào đưa qua bên kia sông Mêkông, phù phép sao đó xong ” bán lẻ ” ngược lại cho nhân dân Lào, giá cả so le thế nào miễn chiết tính. Chẳng lẽ ghềnh thác Lào sản xuất được loại điện thô như Trung Đông sản xuất vàng đen thô ?

Không nơi nào ở Lào câu thành ngữ ” phép nước, lệ làng ” lại khích khao hơn ở đây:

Bất chấp mọi biến thiên chính trị, Paksane nói riêng vẫn giữ mô hình tổ chức xã hội Bản-Mường (nhiều bản hợp lại thành một mường) được tập hợp theo hai quan hệ: quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng, ở đây vai trò chủ đạo là quan hệ láng giềng mà người Lào gọi chung là Phì Noỏng (bà con). Nai bản ( trưởng làng) hay Phò bản (bố làng) là người đứng đầu bản và lục bản (con làng) là dân ở trong làng, giao tế ứng xử theo quan hệ gia đình mở rộng và điều hành theo hịt bản khong mương (tạm dịch là tập quán pháp) (2). Ví dụ cụ thể: Sau 1975, xứ Lào là Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân (cộng sản) nhưng Borikhamxay nói chung, Paksane nói riêng vẫn là dân chủ công xã, nghĩa là chế độ già làng: Người đứng đầu làng thi hành các quyết định của hội đồng già làng, khi có việc hệ trọng thì mở hội nghị toàn thể thành viên. Ruộng đất thuộc về của công mà ông phò bản là người đại diện, do đó mới có câu ” đình a nha, na phò bản ” (đất của quan, ruộng của bố làng). Nguyên tắc quyền sở hữu điền địa ở Lào là đất đai có chủ nhưng để hoang không khai khẩn một thời gian sẽ trở thành của công của làng đó và ông phò bản toàn quyền phân phối cho người dân trong làng. Ví dụ cụ thể: Những năm 1977-1980 phong trào qua sông tị nạn ” ải nỏng” (anh em = cộng sản) đã làm trống trải Paksane, đến năm 1998, chính chảo mương (thị trưởng) Mương Paksane, với sự đồng ý của các phò bản, lên tiếng mời gọi dân cư vùng LuangPrabang và PhongSaly về đây chia ruộng cho làm kế sinh nhai: Năm 1999 có 48 hộ gồm 344 người đến từ LuangPrabang ; tháng 3 năm 2000 có 700 hộ đến từ Phongsaly.

Câu cửa miệng của người Lào nói chung là Bò Pền Nhắng (không sao cả), ở Paksane triết lý Bò Pền Nhắng càng rõ nét hơn trong mọi hoàn cảnh giữa người với người: Tương ái (3), Tương dung, tương nhượng, tương kính NHƯNG không qụy lụy và tuyệt đối không chấp nhận tính cách áp đặt. Sự áp đặt nếu vì lý do nào đó trong nhất thời họ phải chấp nhận thì chóng chầy, bằng mọi cách, họ sẽ lật ngược lại hết sức nhẹ nhàng. Ví dụ : 1/ Sau 1975, XHCNVN hay dùng nhóm chữ ” Việt và Lào là hai quốc gia anh em”. Bò pền nhắng. Dân quê Lào dạy nhau: Việt và Lào là 2 quốc gia láng giềng: Đúng ; hai quốc gia anh em: Không. Sao vậy ? – Láng giềng người ta có quyền lựa chọn, anh em thì không ! 2/ Sau 1975, chính phủ XHCNVN hay cường điệu – cho vui – câu ” đảng, nhà nước Việt Nam và Lào xây dựng đất nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa “. Bò pền nhắng: Không phản bác, không lý luận, nhưng : Bước thứ nhất, thay hình Búa Liềm bằng hình tháp That Luang trên quốc huy (điều 76, Hiến pháp 1991) ; bước thứ hai, ” chủ nghĩa xã hội là một ước mơ xa vời ” (Kaysone Phomvihane, diễn văn nhậm chức chủ tịch nước,1991) rồi bất chấp áp lực của ông anh VN, mở toang cửa ra, đặc biệt đối với Thái Lan. Còn chuyện một nhúm người trong bộ tộc chủ thể ở Lào vẫn còn lay hoay tục tác trong ổ độc đảng, độc quyền, tham quyền cố vị thậm chí ngồi trên cả hiến pháp do chính họ soạn thảo ra lại là chuyện khác, sẽ nằm trong một bài khác.

Lần đầu tôi trở lại Paksane vào tháng tư 1993, lần sau cùng vào tháng năm 2004, tổng cọng qua lại 5 lần. Kỷ niệm thì nhiều, ở đây xin ghi lại một vài ấn tượng đối với cá nhân tôi.

Ở Vientiane tôi có người bạn. Mỗi lần tôi về, suốt thời gian có mặt ở Vientiane là hắn nhường cho tôi một trong mấy cái xe gắn máy của hắn. Lần đó vì đi công tác thiện nguyện nên tôi lưu lại Vientiane 3 tuần. Sau khi đã “no” cảnh Vientiane tôi quyết định một mình đi Paksane bằng xe gắn máy, bất chấp sự ngăn cản của các bạn. Thời đó, từ tỉnh nầy qua tỉnh khác, bất kỳ cư dân hay ngoại kiều, còn phải có giấy phép đi đường, trên trời hay dưới đất, dưới sông cũng vậy.

” Trên con đường đê chia đôi phường Khua Đinh và phường Sí Mương có con dốc nhỏ, xuống một đoạn, rẽ phải là vào xóm Salađeng (hay xóm Nguyễn Du, gọi theo tên trường tiểu học việt ngữ). Đối diện trường Nguyễn Du có một căn nhà bằng gỗ, bao quanh là rào hoa giấy màu hồng nhạt, ở ngõ vào nhà phía bên hông tòng teng mươi giò hoa rừng và một người vừa cùng tên vừa như hoa.

Từ căn nhà nầy đi vào xóm trong, độ 100 thước, có một căn nhà bằng xi-măng và một người khách đến từ phương xa tuổi tên cùng một chữ.

Khách và hoa quen biết nhau do hai gia đình vốn qua lại thân thiết. Hoa chưa chớm nụ, khách tròn đôi tám. Ba tháng hè trôi qua, khách về hoa ở lại. Hè năm sau, khách lại lên. Ba tháng hè trôi qua, khách trở về, hoa ở lại. Hè năm sau nữa, khách trở lên. Hoa vừa chớm nụ, khách hết vị thành niên và họ ấy nhau …

Khách lên trọ học tại Vientiane trọn niên khoá 1973-1974. Giáng sinh 1973 họ đèo nhau đi viếng cảnh chùa Phabat Phonsan bằng chiếc xe gắn máy Yamaha màu huyết dụ.

VAT PHABAT PHONESANE VÀ DẤU CHÂN ĐỨC PHẬT

Chùa Phabat Phonsan được sùng tạo năm 1933, cách Vientiane 70 cs, thuộc địa phận Paksane. Cũng như mọi ngôi chùa khác khắp xứ Lào, cảnh quan chùa Phabat Phonsan rất đẹp với lối kiến trúc đặc thù Lào, xa xa điệp điệp núi rừng. Chùa Phabat Phonsan là linh địa hành hương của cư dân Borikhamxay và Vientiane vì nơi đây có dấu tích bàn chân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thực hư thế nào không nằm trong bài nầy, có điều dấu chân Phật đã được phóng đại dài 40 cm, sâu 1.20 cm, móng chân dài 2.40 cm ; có hình bánh xe luân hồi, hoa sen và 108 loài vật dưới lòng bàn chân, hoàn toàn mang tính cách biểu tượng. Ngoài ra, ở đây còn có một bức tượng Phật nằm rất lớn, sơn son thếp vàng, sống động sắc xảo chứng tỏ một tài nghệ đúc khắc cao, dấu vết bể dâu là những đường nứt nhỏ, chẳng khác gì những lớp xếp mờ tỏ trên trán khách, sau 30 năm dâu bể. Ngồi lại chỗ hoa ngồi ngày xưa dưới chân Phật nằm, văng vẳng đâu đây tiếng hoa cười, thoang thoảng mùi hương sứ. Tình học trò sóng nổi, đam mê … Đã bao lần chạnh lòng hồi tưởng, khách vẫn không có câu trả lời thích đáng cho câu hỏi ” lầm lỗi nào để đành chẳng thà chẳng được nhau ? “. Duyên đâu kết trong một sớm một chiều thì chẳng lẽ nợ lại nặng hơn duyên ? Có nợ mà chẳng có duyên đã mấy ai hạnh phúc trong đời. Hoa dang dở, khách long đong trong cảnh đồng sàng dị mộng. Lặng nhìn dáng nằm an nhiên tự tại của Đức Bổn Sư lòng lại bảo lòng “sao ngài không nhín chút thời giờ trả lời giùm con ?”. Chỉ biết rằng trong thâm sâu khách hằng mặc niệm “mất em rồi mới biết em là tất cả” ; dường như hoa trả lời ” chẳng được nhau mới có nhau trọn kiếp người “.

CHUNG QUANH PAKSANE

Mỗi người mỗi sở thích. Đa số đều thích đến những chốn đèn màu, tôi lại tìm đến các nơi ” khỉ ho cò gáy “, tìm hiểu những điều chẳng giống ai. Tôi biết sở thích của tôi không được gia đình đồng tình cho lắm nên khi thằng cháu con bà chị đề nghị đưa cậu lên Vientiane bằng xe nhà, để sau đó tôi về lại Pháp, tôi đặt điều kiện ngay: Cậu muốn đi đâu, dừng ở đâu, dừng bao nhiêu lâu phải theo ý cậu, không thì thôi. Nó gãi đầu, chấp thuận. Làm gì nó không hiểu thế là thế nào khi chung quanh là mẹ nó, nhất là bà ngoại hằng lo ngay ngáy vì biết rõ cậu út thuộc diện tọc mạch không đơn giản, có vấn đề lồng trong lời nói, giữa hai dòng chữ. Thiệt tình thân tôi sắp bạc đầu rồi còn gây phiền đến người thân.

Pak Kađing vừa là tên một trong sáu mường (Mường Pak Kađing) thuộc Borikamxay vừa là tên làng (Bản Kađing) gần Paksane, cách khoảng 50 cs về phía đông. Pak = Miệng, Kađing = tên con suối (hay nhánh sông) chảy ra sông Mêkông, là trạm dừng chân của mọi phương tiện giao thông đường bộ đi-về giữa Vientiane và các tỉnh miền Nam xứ Lào. Nam Kađing (4) nổi tiếng có nhiều loại cá ngon, cách thức chế biến, gia vị cũng đặc trưng. Ngoài ra chung quanh Pak Kađing còn có Bản Nakay-Nam Theun, Bản Nahin và Phou Pha Mane gom lại thành một chu vi núi rừng rộng lớn, kỳ vĩ – 3700 cs vuông – nhất là khoảng thời gian về chiều, được liệt thành Khu Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Quốc Gia ( National Biodiversity Conservation Area, NBCA) và World Wildlife Fund (WWF) bảo trợ, nơi còn khá nhiều loài thú có nguy cơ tuyệt chủng như gấu đen, báo, voi, cọp, mang lớn (5) sao la (6).

Chú thích:

(1) Nam theun 2 (NTPC) là đập thủy điện khổng lồ, 1.000 MW, lớn nhất Đông Nam Á, với ngân sách liên doanh 1.3 tỉ USD (Công ty điện lực quốc gia Pháp-EDF chiếm đa số cổ phần: 35%, Lào: 25%, Thái: 25% và Liên Doanh Ý-Thái: 15%), dự tính sẽ được khai thác cuối 2006 với một khách hàng duy nhất là EGAT,Thái Lan, tiêu thụ 95% năng xuất. Theo dự kiến 7.000 gia đình (40.000 người) trong 89 làng chung quanh đồng bằng Nakay sẽ bị tái định cư, hàng chục ngàn ngư phủ sẽ bị ảnh hưởng trong việc đánh cá … Chi tiết dự án xin mời các bạn vào đây:

http://www.amisdelaterre.org/rubrique.php3?id_rubrique=152
http://www.namtheun2.com
http://www.irn.org/programs/mekong/namtheun.html

(2) Ở Lào có một số quy tắc được gọi là ” Hịt bản” (tập quán của làng) và ” Khoong mương ” (điều lệ của mường): a/ Hịt síp xoóng, b/ khoong síp xì, c/ pa phê ni síp hạ, d/ lắc xa nả síp hôốc:

a/ Hịt síp xoóng = Mười hai điều quy định về quan hệ nam nữ, cưới hỏi, ma chay, kiêng kỵ …Hịt rất đa dạng, nhu nhuyễn theo từng làng nên có câu ” hịt pháy, hịt măn (tục lệ nào, làng bản nấy).

b/ Khoong síp xì = Mười bốn điều lệ của mường về quyền sở hữu đất đai, ruộng đồng, núi rừng, sông suối.

c/ Pa phê ni síp hạ = Mười lăm nguyên tắc về nghi thức tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như làm bun (lễ hội), cúng phí bản (cúng ma làng), cúng phí mương ( cúng ma mường) …

d/ Lắc xa nả síp hôốc = Mười sáu đặc tánh về cách tổ chức hành chính và chính quyền ( mô phỏng các bộ phận trong cơ thể con người), chẳng hạn Húa Mương (đầu mường), Chày Mương (tim), Háng Mương (đuôi), Khén Mương (tay), Khá Mương (chân), Xạy Mương (ruột) …

Những điều ghi trên tôi học được từ các bạn Lào, tôi cũng cố truy tìm cho đầy đủ nhưng chịu, do đó nếu bạn đọc biết rõ hơn xin giúp bổ túc cho.

(3) Tôi dùng chữ Tương ái thay vì hoà ái, bởi hoà ái là hai chữ coi như độc quyền của người việt dùng để tự đánh giá người việt. Nhìn từ ngoài, theo tôi, người việt nói chung – trong đó có tôi – chỉ hoà ái với nhau khi đôi bên ” hoà “, chứ khi có chút ” nghịch “, người việt với người việt chẳng ” hoà ” tí nào. Mà theo lẽ ” hoà ái ” tự thân nó chỉ có giá trị thực thụ trong những hoàn cảnh ” nghịch”: hoà trong lời nói, hoà trong chữ nghĩa, thậm chí hoà trong câu chửi. Thành ngữ có câu ” hoà nhi bất đồng ” là vậy. Tuy nhiên người việt chúng ta luôn luôn ” hoà ái ” với người nước ngoài !

(4) Các nhánh sông từ bắc Lào (Nam La, Nam Seng, Nam Tha…) xuống tới Borikhamxay, Kađing là nhánh sông cuối cùng có tên gọi bắt đầu bằng chữ Nam (nảm = nước, Nam Kađing), từ đây xuống tận biên giới Lào-Kampuchia mọi nhánh sông đều bắt đầu bằng chữ Sê (Sê = suối, như Sê Băng Hiêng, Sê Băng Fay, Sê Đôn, Sê Kôông).

Trung Quốc cũng có cách gọi các nhánh sông tương tự: Từ bắc Trường Giang trở lên có tên là Hà, từ nam Trường Giang trở xuống là Giang. Việt Nam không có sự tách biệt nầy.

(5) Giant Muntjac = Mang lớn = Một loại thú móng guốc có họ hàng rất gần với loại mang thường (muntjac) được phát hiện năm 1994 trong chu vi NBCA. Ở Việt nam cũng phát hiện loại thú nầy trong vùng Nghệ-Tĩnh.

(6) Sao la = Spindlehorn = Một loài thú họ bò có cặp sừng dài và nhọn được phát hiện lần đầu tiên năm 1992. Sao la còn có tên Pseudoryx và NgheTinhEnsis.

Kỳ tới: BOUN BANG FAY Ở PAKSANE

Make a Comment

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Liked it here?
Why not try sites on the blogroll...

%d bloggers like this: